Tổng quan về bệnh động kinh

Động kinh hay còn gọi là giật kinh phong là một tình trạng bệnh lý mạn tính được thể hiện bằng các cơn co giật kéo dài trung bình khoảng 5 phút, hoặc các cơn co giật liên tiếp mà giữa các cơn không có thời gian hồi phục hoàn toàn. Động kinh chiếm tỷ lệ 0,5% dân số toàn cầu và tập trung 80% ở các nước đang phát triển, tại Việt Nam theo thống kê có 2% số người có các cơn động kinh, và 20% người bệnh tử vong.

TỔNG QUAN VỀ BỆNH ĐỘNG KINH

Động kinh hay còn gọi là giật kinh phong là một tình trạng bệnh lý mạn tính được thể hiện bằng các cơn co giật kéo dài trung bình khoảng 5 phút, hoặc các cơn co giật liên tiếp mà giữa các cơn không có thời gian hồi phục hoàn toàn. Động kinh chiếm tỷ lệ 0,5% dân số toàn cầu và tập trung 80% ở các nước đang phát triển, tại Việt Nam theo thống kê có 2% số người có các cơn động kinh, và 20% người bệnh tử vong.

1.    Những nguyên nhân của bệnh động kinh

Động kinh có nhiều nguyên nhân và được chia làm hai nhóm:

•    Động kinh không rõ nguyên nhân

Nhóm động kinh không rõ nguyên nhân (động kinh vô căn): Bệnh thường liên quan đến yếu tố di truyền, do sự bất thường một phần các gen mã hóa các kênh ion trong cơ thể.

•    Nhóm động kinh triệu chứng thường thứ phát sau một số bệnh khác

Nhóm này do các nguyên nhân sau:
-    Chấn thương sọ não: động kinh thường khởi phát sớm trước 7 năm.
-    Nhiễm khuẩn nội sọ, viêm não, viêm màng não, nhiễm sán não, giun chỉ, giang mai thần kinh.
-    Bệnh lý về mạch máu: Dị dạng động- tĩnh mạch, tai biến mạch máu não.
-    Khối u trong não.
-    Dị tật trong thời kỳ chu sinh (tuần thứ 28 mang bầu cho đến ngày thứ 8 sau sinh). Tiền sử lấy thai bằng forcep, sốt cao co giật, ngộ độc hoặc quá liều một số loại thuốc.
-    Bệnh nhân cai nghiện rượu, dùng thuốc ngủ kéo dài, dùng thuốc chống trầm cảm 3 vòng, bệnh nhân bị Alzheimer …

2.    Cơ chế của bệnh động kinh

Có rất nhiều nghiên cứu khoa học nhưng cơ chế bệnh sinh của bệnh động kinh đến nay vẫn chưa được hoàn toàn sáng tỏ. Chỉ làm rõ được cơ chế sinh lý: 
-    Tăng hoạt tính của các amin kích thích thần kinh trong não.
-    Giảm hoạt tính của GABA receptor (chất ức chế hoạt động thần kinh chống co giật) 
-    Khởi phát bệnh do sự phóng điện đột ngột quá mức của những nhóm nơron từ vỏ não hoặc qua vỏ não gây ra các rối loạn chức năng của thần kinh trung ương (biểu hiện bằng các cơn vận động, thực vật, cảm giác, giác quan...)
-    Việc kích thích nơron phóng điện liên quan tới ngưỡng động kinh. Mức độ di truyền, bất thường chuyển hóa, tổn thương não làm ngưỡng động kinh bị hạ thấp tạm thời hoặc vĩnh viễn.

3.    Những biểu hiện của bệnh động kinh

Động kinh chia làm 2 loại chính là động kinh cục bộ và động kinh toàn thể.

•     Động kinh cục bộ 

-    Cục bộ đơn thuần vận động (thùy trán lên): Giật khu trú nửa người, lan từ phần này đến phần khác ở tay-chân-mặt-lưỡi, khi lan lên mặt thường gây mất ý thức. Sau cơn có thể có liệt Todd, sẽ hết trong vài giờ.
-    Cơn cục bộ cảm giác: Ít gặp, sợ mùi, lo âu, ảo giác.
-    Cơn động kinh thực vật (não trung gian): Đỏ gay mặt cổ, đổ mồ hôi, ớn lạnh, sởn gai ốc, tim đập nhanh hoặc chậm bất thường, huyết áp tụt, nấc, ngáp, sốt, đau bụng, có thể kèm theo mất ý thức.
-    Cơn động kinh cục bộ phức tạp (động kinh thái dương, cơn tâm thần -vận động) có thể gây: xuất hiện ảo giác (ngửi thấy mùi khó chịu, nhìn thấy những cảnh xa lạ, sợ hãi, lo lắng…), các động tác tự động không kiểm soát mà có thể gây ra tai nạn, các hành vi vi phạm pháp luật như hiếp dâm, giết người...
-    Cơn cục bộ toàn bộ hóa: thường bắt đầu bằng cơn cục bộ vận động rồi chuyển nhanh sang cơn lớn (cơn toàn thể). 

•    Cơn động kinh toàn thể (bao gồm cơn lớn và cơn bé)

Động kinh cơn lớn: Trước cơn có thể thấy triệu chứng giống như bị cúm; loạn cảm giác, vận động, co cứng cơ chi trên, rối loạn tâm thần, ảo giác kéo dài 0,1 giây. Cơn động kinh lớn điển hình có 3 giai đoạn:
-    Giai đoạn co cứng (khoảng 10-20s): Ðột ngột ngã xuống bất tỉnh có thể gây chấn thương, các chi duỗi cứng, ngón tay chân co quắp, đầu ưỡn ngửa một bên, hàm siết chặt, mắt trợn lên, tím tái, tiểu tiện không tự chủ.
-    Giai đoạn giật (thường 1- 2 phút, ít khi quá 6 phút): cơ phần thân mình và tứ chi giật mạnh liên tiếp có nhịp; sùi bọt mép; có thể cắn vào lưỡi; hai mắt giật lên, sang ngang.
-    Giai đoạn duỗi (5-10 phút): Bước vào tình trạng hôn mê, các cơ bắp mềm ra, thở bù lại gấp, nhanh, mạnh, ồn ào, sau tỉnh lại thở ngáy vài phút, không nhớ gì.
-    Cơn lớn thường xuất hiện ở 10-20 tuổi.
Động kinh cơn bé (cơn vắng ý thức): Thường gặp ở trẻ em (3-12 tuổi), cơn chỉ từ 1/10 - 10 giây, xảy ra nhiều lần một ngày. Trẻ thường mất ý thức đột ngột nên tự nhiên bất động, đánh rơi bát đũa khi đang cầm, ngừng công việc…, có thể kèm mất trương lực, giật cứng cơ nếu là cơn vắng phức tạp.
Cơn co gấp trẻ em (hội chứng West): Thường ít gặp, ở trẻ (4-7 tháng) có các dấu hiệu như: co cứng, gấp cổ, chi, thân mình, thay đổi tác phong, đôi khi là cơn khóc của bé khi bế thường khá khó phát hiện, trẻ sau này dễ bị đần độn.

•    Các chẩn đoán cận lâm sàng: 

-    Điện não đồ: Giúp xác định bệnh, loại cơn và vị trí ổ động kinh, tỷ lệ nhầm lẫn còn cao. 
-    Ghi hình bằng máy SPECT-CT: có tác dụng hàng tuần sau khi hết cơn co giật, dùng khi điện não đồ chưa rõ. 
-    Chụp cộng hưởng từ MRI: Là thăm dò hình ảnh tốt trong việc phát hiện tổn thương và ổ khởi phát động kinh.
-    Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm tìm nguyên nhân khác: Chụp phim sọ, chụp động mạch não, chụp cắt lớp vi tính, xét nghiệm glucose máu, điện giải đồ, dịch não tủy.

Kỹ thuật ghi hình bằng máy Spect

4.    Chẩn đoán

•    Chẩn đoán xác định

Dựa vào lâm sàng và điện não đồ. 

•    Chẩn đoán phân biệt

-    Cơn hysterie
-    Hạ glucose máu
-    Thiếu năng tuần hoàn não
-    Cơn ngất
-    Sốt cao co giật ở trẻ em

5.    Hậu quả của bệnh động kinh

Bệnh động kinh nếu không được chẩn đoán, điều trị kịp thời thì bệnh sẽ nặng lên làm ảnh hưởng đến hoạt động trí óc, cơn động kinh kéo dài hoặc nhiều làm choán chỗ hoạt động nhận thức khiến người bệnh chậm hiểu biết, không thông minh, không tập trung, giảm khả năng làm việc, ảnh hưởng tính mạng (khi cơn xảy ra), đối với động kinh cộng với yếu tố tâm thần còn dễ dẫn tới các hành vi tội phạm.

6.    Điều trị bệnh động kinh

Đối với điều trị động kinh thì chế độ ăn uống, dự phòng cũng là một phần hết sức quan trọng vì giúp ngăn ngừa động kinh tái phát không kém gì điều trị cơn động kinh.

•    Chế độ ăn uống, sinh hoạt, lao động

-    Không dùng các loại kích thích như cafe, thuốc lá, rượu, ma túy…
-    Không ăn quá no, thức ngủ đúng giờ.
-    Tránh các công việc có thể gây nguy hiểm như: làm việc trên cao, dưới nước, gần lửa, lái xe.
-    Tránh làm việc lâu ngoài trời nắng vì dễ mất nước và điện giải
-    Không nên xem ti vi, ngồi máy tính, và trò chơi điện tử lâu vì dễ lên cơn.

•    Ðiều trị bằng thuốc

-    Điều trị bằng thuốc kháng động kinh. Phải chọn thuốc kháng động kinh phù hợp và theo dõi đáp ứng điều trị, giảm liều, thay đổi thuốc phải từ từ. Dùng thuốc có nguồn gốc tự nhiên để điều trị kiểm soát ổn định.
-    Ðiều trị phẫu thuật đối với: Động kinh cục bộ không có tổn thương lan rộng, dị dạng mạch ở nông, u não.

Bác sĩ: Lê Thanh Xuân (Thọ Xuân Đường)

Nhà thuốc Thọ Xuân đường với lịch sử lâu đời đã điều trị hiệu quả cho nhiều bệnh nhân ở các mức độ khác nhau. Phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả không gây tác dụng phụ cho bệnh nhân. Địa chỉ: Số 7 Khu tập thể Thủy sản, Ngõ 46 Lê Văn Thiêm, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội. Nhà thuốc làm việc từ thứ 3 đến chủ nhật hàng tuần. 
Bạn có thể liên hệ số: 0943.406.995/ 093.763.8282 để được tư vấn miễn phí. 

 


Điện thoại liên hệ:0943.986.986

Bài viết liên quan
1
Bạn cần tư vấn?