Chẩn đoán phân biệt khối đơn độc ở phổi

Trên phim chụp xquang lồng ngực có hình ảnh đặc phổi là nốt mờ duy nhất, hình tròn, không lan tới rốn phổi và trung thất hay gặp khó khăn trong việc chẩn đoán chính xác bệnh. Khi gặp các khối đơn độc ở phổi này cần phải phân biệt sự ác tính hay lành tính để có phương án điều trị hợp lý.

CHẤN ĐOÁN PHÂN BIỆT KHỐI ĐƠN ĐỘC Ở PHỔI

Trên phim chụp xquang lồng ngực có hình ảnh đặc phổi là nốt mờ duy nhất, hình tròn, không lan tới rốn phổi và trung thất hay gặp khó khăn trong việc chẩn đoán chính xác bệnh. Khi gặp các khối đơn độc ở phổi này cần phải phân biệt sự ác tính hay lành tính để có phương án điều trị hợp lý.

1.    Chẩn đoán để phân biệt khối đơn độc ở phổi 

Dựa vào khai thác tiền sử bệnh nhân, thăm khám lâm sàng, dấu hiệu xquang để chia ra các tiêu chí so sánh định hướng chẩn đoán phân biệt khối đơn độc ở phổi đó là lành tính hay ác tính. 

Theo thống kê, 54% các khối mờ đơn độc ở phổi là các u hạt, 28% là ung thư phế quản -  phổi, 7% là u loạn sản phôi, 4% là ung thư di căn phổi và 2% là u tuyến của phế quản.

2.    Căn nguyên

Căn nguyên gây ra tổn thương trên phổi dạng khối, nốt trên phim chụp xquang rất đa dạng, vì vậy cần phải chú ý đến các căn nguyên sau để chỉ định các xét nghiệm phù hợp phục vụ cho chẩn đoán xác định.

-    U hạt do nhiễm các tác nhân vi sinh: U nấm Aspergillus, u lao, u nấm Histoplasma, u nấm Coccidioidomyces…
-    U ác tính: Ung thư phế quản, ung thư phổi nguyên phát hoặc thứ phát (di căn duy nhất), ung thư tiểu phế quản, phế nang. U carcinoid.
-    U lành tính: U tuyến phế quản, u loạn sản phôi, u sụn, u xơ, u mỡ.
-    Viêm mạch máu, nhất là bệnh Wegener.
-    Dị dạng: Lỗ rò động mạch – tĩnh mạch trong phổi, u nang cho giãn phế quản.
-    Những nguyên nhân khác: Hít phải dịch (viêm phổi dạng mỡ), rối loạn miễn dịch (nốt dạng thấp), nhồi máu phổi, áp – xe nóng do nhiễm khuẩn, áp – xe lạnh do lao, kén sán…

3.    Xét nghiệm cận lâm sàng

Ngoài những tiêu chuẩn về lâm sàng để phân biệt giữa khối u phổi đơn độc lành tính hay ác tính qua việc hỏi tiền sử và khám thực thể cần phải có những xét nghiệm cận lâm sàng thích hợp để xác định chẩn đoán:

Chụp xquang lồng ngực thẳng, nghiêng, chụp cắt lớp vi tính (CT – scanner). Chụp so sánh sau 2 năm để so sánh, nếu khối mờ không thay đổi nhiều về kích thước thì nhiều khả năng là khối lành tính.

-    Test da: Với Tuberculin, Histoplasmin, Coccidioidin.
-    Soi phế quản, nhất là khi có khối mờ kích thước > 2cm.
-    Xét nghiệm đờm tìm trực khuẩn lao.
-    Chọc dò bằng kim qua lồng ngực tới khối mờ, nếu khối này khu trú ở vùng nông, rồi làm sinh thiết tế bào.
-    Tìm khối u nguyên phát các cơ quan khác trên cơ thể.
-    Mở lồng ngực thăm dò.

4.    Điều trị

Tùy vào đối tượng bệnh nhân, tùy vào khối mờ phổi nghi ngờ là lành tính hay ác tính mà phương án điều trị khác nhau:

-    Nếu đối tượng dưới 50 tuổi và tổn thương có khả năng lành tính: Chụp xquang mỗi tháng 1 lần để kiểm tra theo dõi trong 6 tháng. Nếu kích thước khối mờ tăng lên, thì nên can thiệp điều trị. Nếu nốt mờ không tiến triển, thì chụp xquang kiểm tra tiếp tục 6 tháng 1 lần.
-    Nếu đối tượng trên 50 tuổi, có những yếu tố tiền sử và xquang nghi ngờ khối mờ phổi là bệnh ung thư ác tính nên phẫu thuật thăm dò.
-    Nếu có những dấu hiệu chắc chắn khối mờ là ác tính cần phải điều trị ngay bằng nhiều biện pháp như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị… Chữa ung thư bằng Nam y hiện đang là phương pháp điều trị mang lại nhiều thành công trong việc chữa ung thư phổi, chống tái phát sau điều trị y học hiện đại, phòng ung thư hóa các khối u lành tính.

Bác sĩ: Nguyễn Thùy Ngân (Thọ Xuân Đường)
 


Điện thoại liên hệ:0943 986 986

Bài viết liên quan
1
Bạn cần hỗ trợ?