Cần hôi dược liệu hiếm gặp ở Việt Nam

Theo đông y, dược liệu Cần hôi (Pimpinella diversifolia DC.) vị cay, đắng, tính ấm, có ít độc, có tác dụng trừ hàn thông phổi, khư phong giải độc, hoạt huyết tán ứ, tiêu sưng giảm đau. Thường dùng trị cảm mạo phong hàn, ho gà, lao phổi, kiết lỵ, tiêu chảy, đau dạ dày, sốt rét, rắn độc cắn, ong và bò cạp đốt, vô danh thũng độc, các chứng ghẻ ngứa ngoài da.

CẦN HÔI DƯỢC LIỆU HIẾM GẶP Ở VIỆT NAM

Theo đông y, dược liệu Cần hôi (Pimpinella diversifolia DC.) vị cay, đắng, tính ấm, có ít độc, có tác dụng trừ hàn thông phổi, khư phong giải độc, hoạt huyết tán ứ, tiêu sưng giảm đau. Thường dùng trị cảm mạo phong hàn, ho gà, lao phổi, kiết lỵ, tiêu chảy, đau dạ dày, sốt rét, rắn độc cắn, ong và bò cạp đốt, vô danh thũng độc, các chứng ghẻ ngứa ngoài da.

1.    Cây cần hôi hiếm gặp ở Việt Nam

Cây thảo, sống lâu năm, cao gần 1m. Thân hình trụ, có rãnh dọc và lông mềm, phân nhiều cành. Lá mọc so le, có nhiều dạng, những lá ở gốc có cuống dài, có bẹ, phiến hình tam giác, dài 1,5 – 2cm, gốc hình tim, đầu hơi nhọn, mép khía răng tròn, có khi phiến còn chia thùy nông không đều; những lá giữa có cuống ngắn, thường chia 2 – 3 lần lông chim hoặc chia 3 thùy hẹp, dài 3,5 – 5 cm, mép có răng nhọn; những lá ở ngọn, không cuống chẻ 3 thùy, thùy bên đôi khi chẻ 2, phiến rất hẹp, mép khía răng không đều, gân chính 3 – 5, hai mặt có lông thô.

Cụm hoa mọc ở ngọn cành hoặc kẽ lá thành tán kép; tổng bao có ít lá bắc dạng lông tơ, tiểu bao gồm các lá bắc hình sợi, đôi khi không có tiều bao, hoa nhỏ màu trắng, đài có răng không rõ, tràng có cánh thuôn nhẵn; bầu có vòi cong ra phía ngoài. Quả hơi dẹp, hình trái xoan, có lông tuyến, các phân quả có cạnh lồi rõ. Mùa hoa quả tháng 6 đến tháng 8.

Chi Pimpinella L. phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ẩm bắc bán cầu, ở Việt Nam đã biết có 2 loài, trong đó có loài cần hôi (P.diversiffolia DC). Trên thế giới, loài này phân bố ở Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc (có cả ở Đài Loan), Nhật Bản. Tại nước ta, cần hôi đã ghi nhận được một số tỉnh miền núi như Lào Cai (Sa Pa), Lạng Sơn (Đồng Đăng), Lâm Đồng (Lang Biang),…

Cần hôi là loại cây sống 1 hoặc 2 năm, ưa ẩm, ưa sáng nhưng có thể hơi chịu bóng. Cây thường mọc rải rác hay tập trung vài cá thể thành đám nhỏ, trên đất ẩm ở ven rừng, ven đường đi hoặc gần bờ nương rẫy. Độ cao phân bố từ khoảng 800 – 1600m. Hàng năm cây con mọc từ hạt quan sát được vào khoảng tháng 4 – 5; sinh trưởng mạnh vào mùa hè – thu, đến cuối mùa thu đã thấy có quả già. Trường hợp cây con mọc muộn (tháng 6 – 7 ) thì đến mùa thu năm sau mới có hoa quả. Sau khi quả già, toàn cây sẽ bị tàn lụi trong mùa đông. Cây tái sinh tự nhiên chủ yếu bằng hạt.

2.    Tác dụng dược lý của cao cần hôi

•    Thử dung nạp cao cần hôi

Cao cần hôi chiết bằng ethanol 50%,  tiêm phúc mạc cho chuột nhắt trắng với liều 25 mg/kg, chuột dung nạp tốt, không thấy có biểu hiện độc hại.

•    Tác dụng trên virus bệnh Ranikhet (Ranikhet desease virus) in vitro

Cao khô cần hôi được thêm vào dịch cấy virus với nồng độ 0,05 mg/ml trên màng đệm niệu nang (chorio – allantoic membrane) phôi gà và ủ trong 11 – 14 ngày tuổi, có tác dụng ức chế sự phát triển của virus có ý nghĩa so với lô chứng không dùng cao thuốc (Dhar, 1969: 242).

•    Tác dụng trên hồi tràng chuột lang cô lập

Trong bình nuôi hồi tràng chuột lang cô lập, thêm 0,2ml dung dịch acetyllin nồng độ 1µg/ml vào 20ml dung dịch Tyrode, làm tăng co bóp của hồi tràng. Nếu thêm dung dịch cao khô cần hôi (hòa trong nước) vào bình nuôi, rồi sau một phút, thêm dung dịch acetylcholin sẽ bị ức chế.

•    Tác dụng tăng hoạt động tim

Chuột lang cân nặng 400 – 500g được giết chết đột ngột bằng cách dùng một thanh gỗ chắc đập mạnh vào đầu. Mổ ngực, bóc tách lấy tim có cả một đoạn động mạch chủ đến chỗ động mạch chủ chia đôi. Luồn ca nun vào động mạch chủ rồi truyền theo phương pháp Langendorff. Dịch truyền là dung dịch Ringer – Locke có sục khí oxygen và giữ ở 37ºC với một áp suất hằng định. Ghi hoạt tim bình thường. Tiêm dung dịch cao cần hôi qua dây truyền polyethylen dẫn vào tim, thấy tăng tần số và biên độ co bóp của tim.

•    Tác dụng diệt tinh trùng (spermicidal activity)

Lấy hai lam kính, mỗi lam kính cho vào một lượng nhỏ mào tinh hoàn chuột cống trắng, vừa được tách tinh hoàn ra khỏi chuột. Nhỏ vào mào tinh hoàn trên lam kính hai giọt dung dịch đệm phosphat đẳng trương Sorensen pH 8 có thành phần gồm 2,7% glucose và 0,38% NaCl để làm đối chứng; còn lam kính kia nhỏ hai giọt dung dịch đệm Sorensen trong vài giây, để tinh trùng tử mào tinh hoàn ra dung dịch. Ngay sau đó, quan sát dưới kính hiển vi, thấy ở lam kính đối chứng không có thuốc, tinh trùng hoạt động tốt trong dung dịch Sorensen; còn ở lam kính có thuốc 100% tinh trùng bị bất động hoàn toàn (Setty e al., 1977:231 – 233).

3.    Công dụng chữa bệnh của cây cần hôi

Rễ và toàn cây cần hôi được dùng trị cảm mạo, phong hàn, ho gà, lao phổi, kiết lỵ, ỉa chảy, đau dạ dày, sốt rét. Liều dùng hàng ngày 12 – 30g, sắc nước hoặc ngâm rượu uống. 

Dùng ngoài, lấy cây tươi, lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát, đắp lên các chỗ ghẻ, lở, ngứa ngoài da, chỗ có bệnh. Nếu là dược liệu khô, thì tán thành bột mịn, hòa với nước bôi hoặc đắp.

Ở Trung Quốc, người ta lấy rễ hoặc cả cây tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước, nhỏ vào chỗ có mụn ở mũi, họng, tai. Dùng trong chữa rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, ngày 6 – 15g sắc nước uống.

Ở Ấn Độ, cần hôi còn được dùng làm thuốc gây trung tiện,

Qua thực tế điều tra của viện Dược liệu, loài cần hôi kể trên có thể xếp vào nhóm cây thuốc hiếm gặp hoặc là loài có kích thước quần thể nhỏ ở Việt Nam. 

Mai Thanh (Thọ Xuân Đường)

Để được tư vấn về sức khỏe, quý vị vui lòng liên hệ Nhà thuốc dong y Thọ Xuân Đường

Hotline: 0943 986 986 hoặc 0937 63 8282


Tác giả: Mai Thanh

Điện thoại liên hệ:0943 986 986

1
Bạn cần hỗ trợ?