Tác dụng thanh nhiệt giải độc của cây cứt quạ

Cây cứt quạ có tên khoa học là Gymnopetalum cochinchinense (Lour.) Kurz. có vị đắng, tính lạnh, không độc có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, tiêu độc, thoái ban, nùng, trừ đờm, chỉ khái. 

TÁC DỤNG THANH NHIỆT GIẢI ĐỘC CỦA CÂY CỨT QUẠ 

Cây cứt quạ có tên khoa học là Gymnopetalum cochinchinense (Lour.) Kurz. có vị đắng, tính lạnh, không độc có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, tiêu độc, thoái ban, nùng, trừ đờm, chỉ khái. 

Cây thảo có thân mọc bò, dài 1 - 2m, có cạnh và khía rãnh, lông rất ngắn. Tua cuốn đơn. Lá mọc so le, hình 5 cạnh, đôi khi chia 3 thùy, dài 4 - 6 cm , rộng 3 - 5 cm, gốc hình tim rõ, đầu nhọn, mép uốn lượn và khía răng, phiến lá có lông cứng, xen lẫn những hạch nhỏ, cuống lá có lông, dài 3 - 4 cm.

Cụm hoa đực mọc ở kẽ lá thành 2 cụm, một cụm mang 1 hoa có cuống ngắn, cụm kia có 3 – 8 hoa cuống dài; đài có ống 5 răng, phủ lông mịn; tràng 5 cánh, màu trắng, loe hình bánh xe, Ghi đính ở chỗ phình của ống tràng, chỉ nhị rất ngắn. Cụm hoa cái có 1 hoa ở kẽ lá, đài có răng ngắn hơn ở hoa đực, bầu có lông. Quả màu đỏ, dài 5 cm, thót lại ở gốc, đầu có mũi nhọn, có 1 sống dọc, hạt nhiều, màu nâu. 

Chi Gymnopetalum Arn. có 2 loài ở Việt Nam là cây cứt quạ và loài Gintegrifolium (Roxb.) Kurz . Cây cứt qua phân bố rải rác khắp các tỉnh miền núi từ Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn,... đến các tỉnh ở Tây Nguyên. Trên thế giới, cây được ghi nhận có ở Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Ấn Độ.

Cứt quạ là cây ưa ẩm, ưa sáng và thường thấy trên các nương rẫy, hoặc ven rừng ẩm. Cây leo lên các cây cỏ khác, bao gồm cả các cây trồng như lúa nương, ngô và sắn. Thời gian từ khi mọc từ hạt đến lúc ra hoa quả khoảng 80 - 90 ngày. Sau khi quả chín, toàn cây vàng úa và tàn lụi, tái sinh tự nhiên từ hạt và cũng có thể trồng được bằng hạt. 

Toàn cây cứt qua được dùng để cắt cơn ho có đờm khi có bệnh về phổi. Ở Bạc Liêu, Cà Mau, phụ nữ sau khi đẻ thường dùng để phòng ngừa bệnh tật. Cành lá non để làm rau, luộc hoặc nấu canh ăn. Quả có độc nhưng khi còn non có thể ăn được. Lá cũng làm mồi để câu cá mè. 

Ở Ấn Độ, nhân dân dùng rễ tươi cây cứt qua nghiền nát hoà với ít nước nóng già, chà xát lên cơ thể ở chỗ đau hoặc xát vào chân tay bị teo. Nếu là rễ khô, nghiền thành bột, rồi cũng trộn với nước nóng già và chà xát như trên. Nước sắc lá để giải độc khi bị ngộ độc và chống co giật sau khi sẩy thai. Lá tươi rửa sạch, ép lấy nước nhỏ vào mắt để chữa đau mắt. Toàn cây là một thành phần của một bài thuốc để dùng cho phụ nữ sau khi đẻ (Chopra et al., 1998, Supplement to glossary of ind. Med. Plants, NiSC - New Delhi, p. 34).

Ở Malaysia, khi bị ngộ độc quả chín của cây cứt quạ, người ta cũng dùng nước sắc lá cây uống để giải độc (quả xanh cây cứt quạ có thể ăn được) và chữa co giật sau khi sảy thai (Perry L.M & Metzger J., 1980, Med. Plant of East and Southeast Asia, MiT Press, Cambrige – Massachusetts – London. P. 115).

Ở Indonesia, lượng vừa đủ của lá, rửa sạch, nghiền nát, trộn với nước vôi rồi đắp lên chỗ đau nhức, thấp khớp.

Mai Thanh (Thọ Xuân Đường)

Để được tư vấn về sức khỏe vui lòng liên hệ Nhà thuốc đông y gia truyền Thọ Xuân Đường.

Địa chỉ: ngõ 1 phố Lê Văn Thiêm, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. 

Thời gian làm việc: 8h - 17h30 từ thứ Ba đến Chủ Nhật hàng tuần, nghỉ thứ Hai.

Hotline: 0943.986.986 hoặc 0943.406.995


Tác giả: Mai Thanh

Điện thoại liên hệ:0943.986.986

1
Bạn cần tư vấn?