Kỷ lục Giunees nhà thuốc đông y gia truyền nhiều đời nhất việt nam

Cảm ơn quý vị đến với website dongythoxuanduong.com.vn. Kính chúc quý vị an khang thịnh vượng. Nhà thuốc đông y Thọ Xuân Đường chuyên khám chữa bệnh đa khoa bằng đông y. Những năm gần đây, nhà thuốc gia truyền Thọ Xuân Đường đã khám và điều trị cho gần 200.000 bệnh nhân ở 104 quốc gia trên thế giới.Kết hợp khám bằng máy chẩn đoán và thăm dò chức năng DDFAO - PRO MEDISCAN M, siêu âm, xét nghiệm, đo kinhạc vi tính ( Việt Nam - Trung Quốc).Áp dụng phương pháp chế biến dược liệu sạch đảm bảo 100% không có chất bảo quản.Công nghệ sắc thuốc đóng túi hàng loạt của thế giới.Kỷ lục Guiness Nhà thuốc đông y gia truyền nhiều đời nhất Việt Nam

Chữa phì đại lành tính tiền liệt tuyến và ung thư tiền liệt tuyến bằng Nam Y

6/23/2016 4:38:54 PM - Lượt xem: 532
Nam giới trên 50 tuổi luôn phải đối diện trước nguy cơ mắc bệnh phì đại lành tính tiền tuyến và ung thư tiền liệt tuyến. Khối u ở tiền liệt tuyến không chỉ làm cho bàng quang không tống hết được nước tiểu gây ra rối loạn tiểu tiện cho nam giới mà còn gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm khác. Với liệu pháp chữa bệnh bằng thiên nhiên, Nam Y đã có nhiều thành công trong việc điều trị chứng bệnh này.

CHỮA PHÌ ĐẠI LÀNH TÍNH TIỀN LIỆT TUYẾN VÀ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN BẰNG NAM Y

Nam giới trên 50 tuổi luôn phải đối diện trước nguy cơ mắc bệnh phì đại lành tính tiền tuyến và ung thư tiền liệt tuyến. Khối u ở tiền liệt tuyến không chỉ làm cho bàng quang không tống hết được nước tiểu gây ra rối loạn tiểu tiện cho nam giới mà còn gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm khác. Với liệu pháp chữa bệnh bằng thiên nhiên, Nam Y đã có nhiều thành công trong việc điều trị chứng bệnh này.

1. Giải phẫu và sinh lý tiền liệt tuyến

Tiền liệt tuyến là một tuyến dưới bàng quang và bọc quanh niệu đạo sau. Tiền liệt tuyến có chức năng ngoại tiết (tiết ra tinh dịch đổ vào niệu đạo) và có chức năng nột tiết. 
Tiền liệt tuyến có hình nón hoặc hình trứng. Có 4 mặt: Trước, sau và hai mặt dưới bên. Tiền liệt tuyến chia làm 3 thùy là phải, trái ngăn cách nhau bởi một rãnh ở mặt sau và thùy thứ 3 gọi là eo tiền liệt tuyến hay thùy giữa. Thùy giữa nằm giữa niệu đạo và ống phóng tinh. Tiền liệt tuyến có kích thước khoảng: Rộng 4cm, cao 3cm, dày 2cm và có khối lượng từ 15-25g.
Giải phẫu vi thể của tiền tiền tuyến bao gồm: 70% mô tuyến và 30% lớp đệm mô sợi cơ. Lớp đệm liên kết với vỏ và bao gồm các sợi Collagen và sợi cơ trơn, bao quanh các tuyến và co bóp trong lúc phóng tinh đổ tinh dịch vào niệu đạo.
Tinh dịch tiết ra từ tiền liệt tuyến chiếm khoảng 25% toàn bộ lượng tinh dịch được phóng ra trong mỗi lần xuất tinh. Nó có vai trò rất quan trọng cho đời sống của tinh trùng, duy trì chức năng sinh sản, bảo toàn nòi giống và nâng cao chất lượng của đời sống tình dục của con người. 

2. Tăng sản lành tính tiền liệt tuyến

Bệnh tăng sản lành tính tiền liệt tuyến hay còn gọi là u xơ tiền liệt tuyến. Có khoảng 40% nam giới trên 50 tuổi bị u xơ tiền liệt tuyến có triệu chứng.

a. Mô bệnh học

- Đại thể:  Trong bệnh u xơ tiền liệt tuyến khối lượng tuyến nặng khoảng 60 - 100g, cũng có khi đến trên 200g. Thường Nơi khởi phát ở vùng trước tiền liệt tuyến, và có thể phát triển về phía bàng quang, niệu đạo hay trực tràng. Trên mặt cắt tiền liệt tuyến, tổn thương có giới hạn rõ, chèn ép vào mô tuyến bình thường, có màu sắc, mật độ thay đổi. Tổn thương u xơ có màu vàng - tím, mềm, được bọc bởi lớp vỏ màu xám, trơn láng, chắc, thường có chất dịch trắng như sữa thấm ra xung quanh nếu do tăng sản tuyến. Còn nếu tăng sản sợi xơ - cơ, tổn thương tuyến có màu xám nhạt, dai, xơ, không có dịch thấm, không có vỏ bao rõ. 
- Vi thể: Bao gồm tăng sản ống tuyến, mô xơ - cơ. Thông thường, thành phần thượng mô ống tuyến tăng sản, các tuyến giãn rộng, lót bởi hai lớp tế bào (lớp trong là tế bào trụ cao, lớp ngoài là tế bào hình lập phương hay dẹt nằm trong màng đáy còn nguyên). Tăng sản thượng mô còn tạo thành những thể nhú vào lòng các bọc. Đôi khi, có thể có sự tăng sản nhiều tuyến nhỏ, dễ chẩn đoán nhầm với Carcinom tuyến (ung thư tiền liệt tuyến). Có khi sự tăng sản ưu thế của thành phần liên kết xơ - cơ, với nhiều tế bào dẹt, không có tuyến. Ngoài ra, còn có thể có thâm nhiễm Lympho bào và có các ổ chuyển sản gai xen lẫn các ổ nhồi máu nhỏ.

b. Triệu chứng

Những triệu chứng sau đây là biểu hiện của bàng quang không tống được hết nước tiểu do phì đại tiền liệt tuyến:
- Tia tiểu nhỏ yếu.
- Tiểu khó khiến bệnh nhân phải rặn mạnh.
- Nước tiểu tồn dư trong bàng quang tăng, vì vậy tiểu nhiều vào ban đêm.
- Dễ bị viêm đường tiết niệu và đái dầm do ứ đọng quá nhiều nước tiểu ở bàng quang.
- Thăm trực tràng: Thấy tiền liệt tuyến to, nhẵn, mềm, bờ rõ, mật độ chắc đồng nhất, không đau. Trong trường hợp về phía niệu đạo tiền liệt tuyến có thể ko thấy sờ thấy bất thường.
- Xét nghiệm, cận lâm sàng: 
+ Nước tiểu bị nhiễm khuẩn (bạch cầu tăng, trong nước tiểu có bạch cầu, vi khuẩn (+)).
+ Ure và Creatinine máu cao khi có biến chứng thận.
+ Nồng độ kháng nguyên đặc hiệu của tiền liệt tuyến (PSA) bình thường hoặc tăng trong 30% trường hợp mặc dù không bị ung thư tiền liệt tuyến.
+ Chụp đường tiết niệu qua tĩnh mạch: Chụp bàng quang thấy có vòm tiền liệt tuyến to, có hình ảnh túi thừa giả, nước tiểu tồn dư. Chỗ niệu quản dưới đổ vào bàng quang bị đẩy lên phía trên thành hình lưỡi câu. Thận có thể bị ứ nước, cũng có thể có sỏi. 
+ Siêu âm qua trực tràng: Được dùng để xác định kích thước, hình thể của tiền liệt tuyến và lượng nước ứ đọng trong bàng quang.
+ Thăm khám niệu động học: Để đánh giá lưu lượng dòng nước tiểu (bình thường là 15-20ml/s), lưu lượng tiểu tiện tối đa (Qmax) là chỉ số tốt nhất để đánh giá (<6ml/s: bí đái; 7-15 ml/s: đái khó; >16ml/s: không có đái khó). 

c. Biến chứng

- Ứ nước tiểu cấp tính: Xảy ra ở 1/3 số trường hợp bệnh nhân, ở bất kỳ giai đoạn nào. Biến chứng này tăng lên khi bệnh nhân uống rượu, nhịn đi tiểu, dùng thuốc kháng Cholinergic, thuốc cường giao cảm và ở nơi có khí hậu lạnh.
- Tiểu tiện ra máu: Thường tiểu tiện ra máu đại thể, không đau. Tiểu tiện ra máu tăng kèm theo đau khi có sỏi bàng quang hoặc viêm tiền liệt tuyến mãn tính.
- Nhiễm khuẩn tiết niệu, sinh dục: Do tình trạng ứ đọng nước tiểu.
- Tiểu tiện không tự chủ: Hay xảy ra vào ban đêm khi lượng nước tiểu tồn dư trong bàng quang lớn.
- Bàng quang mất bù: Ứ nước tiểu lâu ngày gây giãn bàng quang và tạo túi thừa giả ở bàng quang.
- Suy thận mãn tính: Gặp trong ứ nước tiểu đài bể thận kéo dài, bệnh tiến triển nhanh nếu kèm theo nhiễm khuẩn tiết niệu.

3. Ung thư tiền liệt tuyến

Ung thư tiền liệt tuyến hay gặp ở nam giới trên 65 tuổi. Ung thư tiền liệt tuyến thường là ung thư biểu mô tuyến, rất biệt hóa, có dấu hiệu ác tính chắc chắn nhất là khi bao tuyến bị xâm nhiễm. Khối ung thư lan tỏa tại chỗ vào các túi tinh, đáy bàng quang và lỗ niệu quản, vào hệ thống mô liên kết và hạch bạch huyết ở vùng tiểu khung. Ít khi gặp khối ung thư lan sang niệu đạo và trực tràng. Giai đoạn cuối thường di căn chủ yếu là vào xương chậu, cột sống thắt lưng, xương đùi, thường gây ra tạo xương hơn là hủy xương. Rất hiếm khi di căn vào tạng.

a. Triệu chứng

Các triệu chứng của ung thư tiền liệt tuyến bao gồm: 
- Rối loạn tiểu tiện (giống u xơ tiền liệt tuyến) và đau quanh hậu môn. Sự tắc nghẽn này nặng lên nhanh cho thấy có thể là khối u ác tính. 
- Ung thư tiền liệt tuyến có thể có tiểu tiện ra máu, lẫn máu trong tinh dịch và viêm đường tiết niệu. 
- Thăm dò trực tràng: Ở tiền liệt tuyến có nhân rắn, không đồng đều hoặc tiền liệt tuyến to lên, rắn, không đều, không đau, không rõ ranh giới và dính vào các phần sâu. 
- Di căn xương: Trong nhiều trường hợp bệnh nhân đi khám vì triệu chứng đau thắt lưng, đau dây thần kinh tọa, đau vùng xương chậu hay do gãy xương bệnh lý. Chẩn đoán hình ảnh (xquang, CT – scanner, MRI)  xác định được ung thư tiền liệt tuyến di căn xương.
- Suy thận: Thiểu niệu, do xâm nhiễm và do tắc nghẽn.
- Cận lâm sàng:
+ Phosphatase Acid của tiền liệt tuyến: Nếu tăng chứng tỏ khối ung thư to lên hay có di căn.
+ Kháng nguyên đặc hiệu của tiền liệt tuyến (PSA): Nồng độ trên 20µg/l hay gặp trong ung thư tiền liệt tuyến, nhưng đôi khi cũng thấy trong phì đại lành tính tuyến tiền liệt, nồng độ trên 100 µg/l rất có thể là ung thư tiền liệt tuyến đã di căn. Xét nghiệm này rất hữu ích trong việc phát hiện ung thư tái phát sau điều trị.
+ Hội chứng thiếu máu do ung thư di căn vào tủy xương.
+ Sinh thiết tiền liệt tuyến: Là xét nghiệm chẩn đoán xác định ung thư tiền liệt tuyến.
+ Chẩn đoán hình ảnh: Những phương pháp chẩn đoán hình ảnh phép đánh giá vị trị, kích thước khối ung thư. Chụp đường niệu, mạch bạch huyết, xquang, xạ hình xương cũng cho phép đánh giá mức độ xâm lấn, di căn của ung thư tiền liệt tuyến.

b. Chẩn đoán

Bệnh được chẩn đoán khi thăm dò trực tràng và siêu âm qua đường trực tràng. Việc định lượng PSA không phải lúc nào cũng phân biệt được ung thư với u xơ tiền liệt tuyến. 
Chẩn đoán phân biệt ung thư tiền liệt tuyến với các bệnh sau: Tiền liệt tuyến rắn do viêm, u xơ tiền liệt tuyến có viêm hay sỏi tiền liệt tuyến.

c. Tiên lượng và tiến triển

- Giai đoạn A (ung thư tiền liệt tuyến vi thể tại kẽ tuyến, tiềm tàng, thành ổ nhỏ hay lan tỏa): 10 – 40% trường hợp bệnh nhân sẽ có triệu chứng trong nhiều năm.
- Giai đoạn B: Khoảng 85 -90% bệnh nhân ở giai đoạn B1 ( nhân < 1,5cm, vẫn còn ở trong vỏ bao), sống sót được sau 5 năm sau khi phẫu thuật cắt bỏ tuyến. Tỷ lệ sống sót trên 5 năm sau phẫu thuật ở bệnh nhân giai đoạn B2 là <10%.
- Giai đoạn C: Khối ung thư xâm lấn ra khỏi bao, không có di căn xa.
- Giai đoạn D: Khối ung thư xâm lấn vượt ra khỏi bao, có di căn hạch, xương hoặc một số cơ quan khác.
Khoảng 75% trường hợp bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến được chẩn đoán ở giai đoạn C, D với tỉ lệ sống sót trên 5 năm <10%.

4. Phì đại lành tính tiền liệt tuyến và ung thư tiền liệt tuyến theo y học cổ truyền

Theo y học cổ truyền sự rối loạn tiểu tiện đái khó, bí đái ... thuộc phạm vi vào chứng lung bế. Tiểu tiện không thông, nhỏ ra từng giọt ngắn ít, thể bệnh mãn gọi là lung. Tiểu tiện đóng lại, bí kết, không thông, thể bệnh cấp gọi là bế.
Nguyên nhân là rối loạn khí hóa nước ở tam tiêu, bàng quang. Y học cổ truyền chia ra thành những thể sau:
- Bàng quang hư hàn, thận dương hư: Do thận dương hư suy không chưng nóng thủy ở thận từ phế tỳ đưa xuống, làm bàng quang hư lạnh không điều hòa được thủy dịch. Rối loạn tiểu tiện: xuất hiện tiểu đêm một hoặc nhiều lần, thậm chí tiểu nhiều lần ban ngày nặng thì đái vặt, tiểu không tự chủ, tiểu nhỏ giọt khó đi không có sức bài tiết, đái són. Bệnh diễn biến đã lâu, có xu hướng từ từ tăng dần. Thận dương hư: lưng đau, chân lạnh, tinh thần uể oải, sợ lạnh, mặt trắng nhạt, tiểu có lẫn chất đục, liệt dương, tảo tinh, lưỡi nhạt bệu, mạch trầm nhược. Pháp điều trị: Ôn thận hóa khí hành thủy.
- Thể can khí uất kết: Do tình chí không thư sướng làm mất đi sự sơ tiết của tạng can, lâu ngày làm khí trệ, huyết ứ, vì vậy kết tụ và ứ trệ ở trong cơ thể ảnh hưởng đến khí hóa của tam tiêu mà sinh bí đái. Can khí uất kết lâu ngày làm chức năng sơ tiết rối loạn có thể sơ tiết thái quá  thì ảnh hưởng đến thận, làm tinh quan không bền, thận hư nên tiểu són, tiểu đêm.Triệu chứng: Tiểu khó, nhỏ giọt hoặc không ra lúc nặng lúc nhẹ, tiểu són hoặc di niệu, đau tức chướng bụng dưới khi có khi không, kèm tinh thần uất ức, hay nổi cáu hoặc đa phiền, choáng đầu, mất ngủ, miệng đắng, họng khô, ngực sườn đầy tức, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền sác hoặc sáp. Pháp điều trị: Hành khí tiêu tích, hoạt huyết thông lạc
-  Niệu lộ ứ tắc: Khí huyết ứ trở, huyết ứ, ứ trở bàng quang, đàm ngưng ứ trở... Triệu chứng: Bị rối loạn tiểu tiện đã lâu, tiểu ra nhỏ giọt, tia nước tiểu yếu hoặc không thành tia hoặc thành nhiều tia, phải đứng lâu mới đái hết, khi tiểu phải rặn. Nặng thì bí đái, tiểu đau, đầy chướng bụng dưới, đau chói không di chuyển. Miệng lưỡi tím có điểm ứ huyết, mạch sáp. Pháp điều trị: Hành ứ tán kết, lợi niệu.
- Tỳ khí hư (tỳ hư khí hãm): Triệu chứng: Bệnh phát trì hoãn, không có sức đẩy nước tiểu ra, hoặc tiểu tiện phải gắng sức, ra nhỏ giọt, sót rớt dầm dề, lao động quá sức thì bệnh nặng hơn, bụng dưới chướng trệ. Sắc mặt không tươi, tinh thần mệt mỏi, hơi thở ngắn, tiếng nói nhỏ yếu, ăn không ngon miệng, tay chân lạnh, tự ra mồ hôi, lưỡi nhạt hoặc nhạt bệu, rìa lưỡi có nếp hằn răng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch nhược vô lực. Pháp điều trị: Ích khí, kiện tỳ, lợi niệu. 
- Thể thận âm hư: Triệu chứng: Mót tiểu mà đi đái không ra, lưng đau, chân mỏi, đầu váng, hoa mắt, ngũ tâm phiền nhiệt, di tinh, rối loạn sinh dục, vùng hội âm có cảm giác nặng tức, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ, mạch trầm tế sác. Pháp điều trị: Ích thận tư âm, thanh tiết tướng hỏa. 
- Bàng quang thấp nhiệt: Triệu chứng: Tiểu nhiều, tiếu dắt, tiểu buốt, tiểu đục, tiểu ra máu, đường tiểu nóng, đau, vùng hội âm chướng đau, đau lan đến bụng dưới, xuống xương cùng, âm hành và đùi, toàn thân lúc nóng lúc lạnh, nước tiểu vàng, đỏ hoặc đau, táo bón, miệng khô, đắng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng bệu, mạch hoạt sác. Pháp điều trị: Thanh nhiệt lợi niệu.

5. Chữa phì đại lành tính tiền liệt tuyến và ung thư tiền liệt tuyến bằng Nam Y

Với nền y học thuần Việt – Nam Y, đã điều trị các bệnh ung bướu nói chung và phì đại lành tính tiền liệt tuyến, ung thư tiền liệt tuyến nói riêng bằng những liệu pháp tự nhiên đã cho nhiều kết quả tốt. Với chẩn đoán tỉ mỉ từ triệu chứng lâm sàng, triệu chứng cận lâm sàng, tứ chẩn để phân tích cụ thể trên từng bệnh nhân mà đưa ra phác đồ điều trị tốt nhất:
- Dùng thuốc sắc theo phương Kỳ Môn Y Pháp, có gia giảm phù hợp cho từng thể bệnh, từng đối tượng bệnh nhân.
- Dùng các loại thuốc viên, linh đan có tác dụng giải độc cơ thể, khí huyết, tạng phủ, tiêu ung bướu.
- Châm cứu tập trung năng lượng nội sinh để tiêu u, chống co thắt niệu đạo, giải quyết tình trạng tiểu khó.
- Phương pháp ăn nhiều rau xanh, trái cây tươi sống để kiềm hóa cơ thể và điều hòa các rối loạn chuyển hóa, tốt cho bệnh nhân mắc các bệnh chuyển hóa, ung thư, miễn dịch.
- Hướng dẫn bệnh nhân thực hiện lối sống lành mạnh: Luyện ý, luyện hình để tinh thần thư sướng, hình thể khỏe mạnh để tăng thêm sức chống đỡ bệnh tật.
Qua nhiều năm kinh nghiệm chữa trị phì đại lành tính tiền liệt tuyến và ung thư tiền liệt tuyến bằng Nam Y, chúng tôi đã có những kết quả như sau:
- Những bệnh nhân nam cao tuổi đến khám vì những lý do khác thường có rối loạn tiểu tiện kèm theo được khám chi tiết tỉ mỉ đã phát hiện phì đại lành tính tiền liệt tuyến và được chữa trị tận gốc tất cả các chứng trạng mà bệnh nhân gặp phải.
- Những bệnh nhân phì đại lành tính tiền liệt tuyến và ung thư tiền liệt tuyến chưa can thiệp phẫu thuật, hóa trị, xạ trị. Sau điều trị từ 4 – 6 tháng bằng Nam Y đã giảm kích thước khối u, giải quyết được vấn đề khó khăn khi tiểu tiện.
- Những bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn muộn, đã di căn và có nhiều biến chứng nặng nề, đến với Nam Y được điều trị với mục tiêu: Nâng cao thể trạng, tăng sức đề kháng, giải quyết các triệu chứng khó chịu, tiêu u, nâng cao chất lượng cuộc sống, kéo dài sự sống… và đều đạt được những thành công nhất định.
- Những bệnh nhân phì đại lành tính tiền liệt tuyến và ung thư tiền liệt tuyến đã qua phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, bị tái phát hoặc chưa tái phát điều trị bằng Nam Y để chống tái phát, tiêu u, nâng cao thể trạng, khắc phục những hậu quả do tác dụng không mong muốn của các biện pháp chữa trị trước đó để lại.
Nam Y không ngừng nghiên cứu về bệnh tật để tìm ra những liệu pháp chữa bệnh bằng thiên nhiên tốt nhất, toàn diện nhất cho người bệnh.
Tiến sĩ – Lương Y: Phùng Tuấn Giang (phòng khám Thọ Xuân Đường)

 

Chủ tịch Tổ chức Quốc Tế chữa bệnh bằng liệu pháp thiên nhiên tại Việt Nam. 
(Bấm vào đây để nhận mã)

Hỗ trợ trực tuyến

  • Tiến sỹ lương y Phùng Tuấn Giang tư vấn

    0943.968.968
    (Sáng 9-11h - Chiều 14h30-16h30)

  • Chuyên gia tư vấn

    04.3569.0442 - 04.3569.0443
    04.8587.4711 - 04.3385.3321

  • Chuyên gia tư vấn
    1900.545557
    0943.406.995
    0943.986.986
    01664.968.968
    093.763.8282(24/24h)
  • Chuyên gia tư vấn bệnh nhân nước ngoài
    (Senior advisor for foreign patients)
    0943.233.968
    094.33.93.770

Chat: Chuyên gia tư vấn

Chat: Chuyên gia tư vấn

 

Quảng cáo  Quảng cáo  Quảng cáo 21