Đông Y chữa Ung thư vú

Ung thư vú (UTV) là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ nhiều nước công nghiệp. Theo Cơ quan nghiên cứu ung thư thế giới (IARC) vào năm1998 thì UTV đứng đầu, chiếm 21% trong tổng số các loại ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới.

ĐÔNG Y CHỮA UNG THƯ

Phùng Tuấn Giang - Lê Đắc Quý ( www.dongythoxuanduong.com.vn )


ĐẠI CƯƠNG
     Ung thư vú (UTV) là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ nhiều nước công nghiệp. Theo Cơ quan nghiên cứu ung thư thế giới (IARC) vào năm1998 thì UTV đứng đầu, chiếm 21% trong tổng số các loại ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới. Cũng theo IARC, xuất độ chuẩn hóa theo tuổi của UTV ở phụ nữ là 92,04 (trên 100.000 dân) ở châu Âu và 67,48 (trên 100.000 dân) trên toàn thế giới vào năm 1998, đều là cao nhất trong các loại ung thư ở nữ giới. [5]

     UTV đang trở nên phổ biến tại các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, năm 1998, ở nữ giới, UTV  là loại ung thư có tần suất cao nhất ở Hà Nội với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 20,3 (trên 100.000 dân) và cao thứ hai ở thành phố Hồ Chí Minh với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 16 (trên 100.000 dân) sau ung thư cổ tử cung mà xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 28,6 (trên 100.000 dân).  

     Đây là một bệnh hết sức phức tạp mà trong nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân, bệnh sinh và điều trị. Một điều quan trọng cần phải nhận thấy là việc phát hiện sớm UTV qua sự tầm soát ở những phụ nữ bình thường đã làm thay đổi rõ ràng bệnh sử tự nhiên của bệnh cũng như cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh.

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
     Nguyên nhân của UTV chưa được biết rõ, nhưng với những nghiên cứu dịch tễ học cùng với những hiểu biết sâu hơn về sinh học của tế bào tuyến vú đã mang lại những cơ sở mới cho bệnh này.

     Theo UICC thì tỷ lệ UTV ở đàn ông ít hơn 100 lần so với phụ nữ. [3] . Còn theo [1]  thì nguy cơ tương đối của UTV giữa phụ nữ và nam giới là 150. Nghĩa là UTV ở nam giới ít gặp hơn nữ giới rất nhiều lần.

     Dưới đây chỉ nói về những yếu tố nguy cơ UTV ở phụ nữ.

     Người ta nhận thấy nguy cơ bị UTV tăng lên ở những bệnh nhân sau: [1]  

Các yếu tố nguy cơ UTV ở phụ nữ

đông y chữa ung thư vú

Ngoài ra, nguy cơ UTV cũng gặp ở những nhóm người sau:

+Bệnh nhân sống ở các quốc gia vùng Bắc Mỹ và Bắc Âu

+Có tiền sử phơi nhiễm bức xạ ion hóa

+Những phụ nữ không có con. Người ta cho rằng cho con bú kéo dài trên 6 tháng có tác dụng bảo vệ chống UTV ở các phụ nữ trẻ. [1]

+Uống rượu, tiếp xúc với thuốc trừ sâu (đặc biệt là DDT).

SINH HỌC UTV

     Yếu tố gia đình từ lâu đã được công nhận là có liên quan đến UTV, tuy nhiên yếu tố này chỉ quan trọng trong khoảng 10–15% các trường hợp UTV. Yếu tố gia đình gợi ý có một số gene quy định tính nhạy cảm của cá thể đó với bệnh này, và những nghiên cứu về gene đã ghi nhận một vùng của nhiễm sắc thể 17 (mang gene BRCA1 và BRCA2) có liên quan đến việc xuất hiện sớm UTV trong một số gia đình. Hội chứng Li-Fraumeni, với đột biến của gene p53 cũng được ghi nhận ở những bệnh nhân bị UTV sớm. [2] 
     Nội tiết tố sinh dục ảnh hưởng đến nguy cơ UTV. Người ta nhận thấy estrogen đẩy mạnh UTV ở chuột trong thí nghiệm, và trên mẫu nuôi cấy các tế bào UTV thì estrogen kích thích các tế bào này tăng trưởng.
     Ngày nay, người ta biết tác dụng của nội tiết tố sinh dục lên mô vú một phần là qua trung gian các yếu tố tăng trưởng. Một số yếu tố tăng trưởng đã được xác định có thể là nguyên nhân gây ra những biến đổi mô vú bình thường thành ác tính và kéo dài quá trình ung thư hóa. Ngoài ra, estrogen còn gây tăng tiết prolactin  – cũng là một loại hormon gây phát triển tuyến vú. [1]
     Thụ thể của mô tuyến vú với estrogen và progesteron và một số yếu tố tăng trưởng cũng đã được nhận dạng. Trong đó thụ thể với estrogen và progesteron rất có giá trị trong việc đánh giá tiên lượng bệnh nhân, chọn lựa phương pháp điều trị.
     Người ta nhận thấy có khoảng 2/3 các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính, và ½ số đó có đáp ứng khi điều trị bằng nội tiết tố ở chỗ kích thước khối bướu thu nhỏ. [3]

 

CHẨN ĐOÁN  

Triệu chứng lâm sàng

a)Thường gặp
     Đa phần ung thư vú được phát hiện là do chính người bệnh, khi họ ghi nhận thấy một sự thay đổi ở tuyến vú. Thường gặp nhất đó là một khối bướu hay một chỗ dày cứng lên không đau ở vú. Hoặc cũng có thể do thầy thuốc phát hiện qua một lần khám sức khỏe thường kỳ.
     Cần phải nghi ngờ UTV khi thấy bất kỳ bướu nào ở vú ở người phụ nữ trên 30 tuổi cho đến khi có triệu chứng chính xác ngược lại mặc dù khoảng 80% khối bất thường ở vú là lành tính. [2]
     Những tính chất sau của khối bướu gợi ý ác tính:

  +Cứng

  +Không đau (chiếm khoảng 85–90%)

  +Không đồng nhất, bờ không rõ

  +Dính vào thành ngực hoặc da trên vú, khó di động

  +Núm vú bị co kéo

  +Chảy máu

b)Tình huống chậm

     Bệnh nhân đến khám với các triệu chứng của ung thư tiến triển hoặc đã có di căn xa:

+Hạch nách hoặc hạch trên đòn dương tính

+Tràn dịch màng phổi, làm bệnh nhân đau ngực, khó thở.

+Tràn dịch màng ngoài tim, bệnh nhân khó thở, suy hô hấp ...

+Gãy xương, khi ung thư đã di căn vào xương

+Bụng: gan to, cổ trướng, ...

+Di căn lên não: khối u xuất hiện trong não làm bệnh nhân đau đầu, hôn mê; chèn ép cột sống làm bệnh nhân đau lưng, yếu liệt tay chân...

c)Tầm soát ung thư vú

     Điều này đã được làm ở các nước phát triển và đang bắt đầu được áp dụng ở Việt Nam. Các phương pháp sau đây được áp dụng trong chương trình tầm soát UTV:

+Khám lâm sàng tuyến vú: Các phụ nữ trên 40 tuổi cần được khám vú mỗi năm. Cần đảm bảo cho toàn bộ tuyến vú được khám xét kể cả phần đuôi của tuyến ở gần nách. Trong quá trình khám, người bác sỹ nên hướng dẫn cách tự khám vú cho bệnh nhân. Theo UICC khám lâm sàng tuyến vú có thể chấp nhận được để thay thế ảnh chụp vú ở các quốc gia không có phương tiện để thực hiện ảnh chụp vú.

+Tự khám vú: Ít tốn kém. Nếu được thực hiện đúng cách có thể giúp người bệnh phát hiện sớm một bướu vú, được điều trị sớm và vì vậy tiên lượng tốt hơn.
 

ung thư vú

Hình ảnh nhũ ảnh của một tuyến vú bình thường (bên trái) và một khối u ác tính ở vú (bên phải)


+Ảnh chụp vú (nhũ ảnh): Là một phương pháp chụp X quang vú đặc biệt. Dùng một lượng ít tia X, để cho hình ảnh chi tiết của tuyến vú, có thể thấy những điểm vôi hóa rất nhỏ. Ảnh chụp vú  đóng vai trò quan trọng trong tầm soát UTV. Nhiều nghiên cứu cho thấy tầm soát bằng ảnh chụp vú giúp giảm tử suất của UTV khoảng 30%. Vì vậy Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ và Hội Ung thư Hoa Kỳ đề xuất nên chụp ảnh chụp vú mỗi 1-2 năm cho những phụ nữ trên 40 tuổi.

Xét nghiệm cận lâm sàng

1.Chọc hút bằng kim nhỏ (FNA – Fine Needle Aspiration): dùng một kim hút nhỏ lấy một mẫu bệnh phẩm và dùng để làm xét nghiệm tế bào học. Xét nghiệm này có thể cho biết tế bào lấy ra có đặc trưng cho ung thư hay không, nhưng không thể phân biệt ung thư tại chỗ hay ung thư xâm lấn được. Âm tính giả có thể xảy ra khi thật sự là ung thư mà mũi kim không chạm bướu.
2.Sinh thiết trọn khối bướu: thực hiện khi chọc hút không cho chẩn đoán xác định. Tuy nhiên, ngày nay việc sinh thiết trọn khối bướu ít được thực hiện dần đi vì chọc hút bằng kim nhỏ ngày càng cho thấy tính chính xác cao.
3.Chụp nhũ ảnh
4.Siêu âm tuyến vú: là một xét nghiệm rẻ tiền, đơn giản. Siêu âm giúp phân biệt rõ một tổn thương dạng nang với một tổn thương dạng đặc. Ngoài ra, với siêu âm người phụ nữ không có nguy cơ nhiễm tia X, thích hợp cho phụ nữ có thai và phụ nữ trẻ. [2]
5.Còn có nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác được sử dụng trong chẩn đoán UTV như cắt lớp vi tính CT scan, chụp cộng hưởng từ MRI, ...
6.Những xét nghiệm giúp đánh giá đáp ứng điều trị: Tìm thụ thể với estrogen, đo nồng độ estradiol tự do trong máu,... Những xét nghiệm này ít được làm ở điều kiện Việt Nam.

 

PHÂN LOẠI MÔ HỌC
Carcinoma                                                                                                                                                        

+Ống:

-Trong ống

-Xâm lấn với thành phần trong ống chiếm ưu thế

-Xâm lấn, không đặc hiệu

-Dạng trứng cá

-Dạng viêm

-Dạng tủy với thâm nhiễm lympho

-Dạng keo

-Dạng nhú

-Dạng ống dẫn

-Dạng xơ cứng

-Các dạng khác

+Thùy:

-Tại chỗ

-Xâm lấn với thành phần tại chỗ vượt trội

-Xâm lấn

+Núm vú:

-Bệnh Paget, không có gì đặc hiệu

-Bệnh Paget với carcinoma ống

-Bệnh Paget với carcinoma ống xâm lấn

Loại khác

+Carcinoma không biệt hóa

Những loại bướu ít gặp và không được coi là điển hình

+Sarcom  nang thể lá

+Sarcom mạch máu

+Lymphoma  nguyên phát

Các bướu không xâm lấn

+Carcinoma thùy tại chỗ: không bao giờ chẩn đoán được bằng lâm sàng, vì tổn thương ở mức vi thể.

Phân loại theo TNM

Theo bướu nguyên phát T (tumor)

Tx: Không thể xác định được bướu nguyên phát

T0: Không thấy bướu nguyên phát

T in situ: Carcinoma tại chỗ, carcinoma trong ống, carcinoma thùy tại chỗ, hoặc bệnh Paget núm vú không có bướu kèm theo (bệnh Paget núm vú có bướu kèm theo được xếp theo kích thước của bướu)

T1: Bướu có kích thước lớn nhất ≤ 2.0 cm

T1mc: Xâm lấn vi thể bướu có kích thước lớn nhất ≤ 0.1 cm

T1a: Bướu > 0.1 cm nhưng ≤ 0.5 cm

T1b: Bướu > 0.5 cm nhưng ≤ 1.0 cm

T1c: Bướu > 1.0 cm nhưng ≤ 2.0 cm

T2: Bướu có kích thước lớn nhất > 2.0 cm nhưng ≤ 5.0 cm

T3: Bướu có kích thước lớn nhất > 5.0 cm

T4: Bướu kích thước bất kỳ, nhưng có sự ăn lan trực tiếp vào da hoặc thành ngực

T4a: Ăn lan thành ngực

T4b: Phù nề hoặc loét da vú hoặc các nốt vệ tinh ở da vú

T4c: Có cả hai thành phần trên

T4d: Carcinoma dạng viêm

Theo hạch lympho vùng N (Nodes)

Nx: Không thể xác định các hạch vùng

N0: Không có di căn hạch vùng

N1: Di căn vào hạch lympho vùng nách, di động

N2: Di căn vào hạch lympho nách, hạch dính nhau hoặc dính vào các cấu trúc khác

N3: Di căn vào hạch lympho vú trong cùng bên

Theo di căn xa M (Metastasis)

Mx: Không thể xác định di căn xa

M0: Không có di căn xa

M1: Có di căn xa (kể cả di căn vào hạch lympho trên đòn cùng bên)

PHÂN GIAI ĐOẠN THEO UICC 1997

Giai đoạn 0      : Tis  N0  M0

Giai đoạn I       : T1   N0  M0

Giai đoạn IIA   : T0  N1  M0 ; T1 N1 M0 ; T2 N0 M0

Giai đoạn IIB   : T2  N1  M0 ; T3 N0 M0

Giai đoạn IIIA  : T0  N2  M0 ; T1 N2 M0 ; T2 N2 M0 ; T3 N1 M0; T3 N2 M0

Giai đoạn IIIB  : T4  N bất kể M0; T bất kể N3 M0

Giai đoạn IV    : T bất kể  N bất kể M1


ĐIỀU TRỊ

1.Ung thư tại chỗ

+Carcinoma ống tại chỗ: Điều trị chủ yếu là đoạn nhũ có tỷ lệ khỏi bệnh là 98-99% với 1-2% trường hợp tái phát. Điều trị bảo tồn vú đang là hướng đi mới, chỉ mổ lấy bướu cùng với xạ trị hỗ trợ cũng khá hiệu quả, với tỷ lệ tái phát là 7-13%. [2]

+Carcinoma tiểu thuỳ tại chỗ: bệnh nhân thường được theo dõi sát có thể kết hợp với hóa trị phòng ngừa (như dùng tamoxifen) và làm giảm các yếu tố nguy cơ. Phẫu thuật chỉ áp dụng cho một số ít bệnh nhân.[2]

2.Ung thư giai đoạn sớm – I, II, IIIA

Phẫu thuật

     Là điều trị chủ yếu. Những phẫu thuật trước đây như đoạn nhũ tận gốc (Phẫu thuật Halsted) ngày nay ít được dùng vì mức tàn phá rộng, để lại nhiều dư chứng nặng nề cho bệnh nhân. Các loại phẫu thuật ít tàn phá hơn, bảo tồn các cơ ngực lớn, bé càng ngày càng cho thấy hiệu quả trong việc điều trị tại chỗ căn bệnh.

     Phẫu thuật bảo tồn vú: chỉ lấy khối bướu và mô bình thường cách rìa bướu 1-2 cm gần đây được ưa thích và áp dụng nhiều. Nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy phẫu thuật bảo tồn kèm theo xạ trị cho kết quả ngang bằng với phẫu thuật đoạn nhũ riêng lẻ.

     Tuy nhiên, có một số chống chỉ định của phương pháp điều trị này:

+Có hai hoặc nhiều khối bướu nằm ở các góc phần tư khác nhau của vú

+Bướu lan tỏa, giới hạn không rõ

+Bướu to nằm trong tuyến vú nhỏ

+Bướu nằm ở vị trí trung tâm của vú

     Nạo hạch cũng là một phần của phẫu thuật. Nhất là nạo hạch lympho vùng nách rất cần cho đánh giá tiên lượng.

Xạ trị hỗ trợ

+Xạ trị là một phần của phương pháp điều trị bảo tồn: tiến hành sau phẫu thuật cắt bướu. Xạ trị giúp giảm nguy cơ tái phát.

+Xạ trị sau đoạn nhũ: giảm nguy cơ tái phát cho những bệnh nhân nguy cơ cao như bệnh nhân có nhiều hạch vùng, bệnh nhân có bướu nguyên phát to,...

Liệu pháp toàn thân
     Nguy cơ di căn vi thể ở những ung thư giai đoạn sớm là có. Vì vậy, hóa trị là một biện pháp điều trị toàn thân có thể diệt các tế bào ác tính lan tràn.

+Liệu pháp nội tiết

-Cắt buồng trứng

-Tamoxifen: là các chất ức chế thụ thể estrogen chọn lọc. Dùng cho các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính. Có tác dụng giảm nguy cơ tái phát và giảm xuất độ ung thư vú đối bên khoảng 50%.

+Hóa trị hỗ trợ

+Kết hợp cả hóa trị và liệu pháp nội tiết

-Điều trị hỗ trợ đối với ung thư vú có hạch dương tính (di căn hạch) [6]

+Tiền mãn kinh, Thụ thể Estrogen (ER) dương tính hoặc thụ thể Progesteron (PR) dương tính:

*Hóa trị + Tamoxifen

*Cắt bỏ buồng trứng (hoặc chất tương đồng GnRH) +/- Tamoxifen

*Hóa chất +/- Cắt bỏ buồng trứng (hoặc chất tương đồng GnRH) +/- Tamoxifen

*Trước mãn kinh, ER âm tính và PR âm tính: Hóa trị

*Sau mãn kinh, ER âm tính, PR dương tính : Hóa trị, Tamoxifen

*Sau mãn kinh, ER âm tính và PR âm tính: Hóa trị

*Người già: dùng Tamoxifen, nếu không có ER và PR thì dùng hóa trị

Viết tắt ER: Thụ thể Estrogen; PR: Thụ thể Progesterone; GnRH (Gonadotropin releasing hormone): Nội tiết kích thích tiết kích dục tố.

3.Ung thư di căn

     Mục đích chủ yếu là cải thiện chất lượng đời sống và kéo dài cuộc sống.

Phẫu thuật

     Có chỉ định cho một số bệnh nhân. Như bệnh nhân cần đoạn nhũ khi các tổn thương sùi, loét gây đau nhức, bệnh nhân có các di căn não, phổi đơn độc, tràn dịch màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi, …

Xạ trị

     Vai trò chủ yếu trong điều trị tạm bợ và nâng đỡ, ví dụ như chỉ định cho các di căn xương đau nhiều, di căn hệ thần kinh trung ương không cắt bỏ được...

Liệu pháp toàn thân

     Việc lựa chọn thuốc để điều trị phải cân nhắc nhiều yếu tố của bệnh nhân. Các yếu tố đó là: tuổi, bệnh nhân đã mãn kinh hay chưa, bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính hay không, số lượng hạch di căn.... [3]

     Liệu pháp toàn thân bao gồm:

+Liệu pháp nội tiết: thường dùng cho phụ nữ mãn kinh, có thụ thể estrogen dương tính.

Các loại thuốc thường áp dụng: kháng estrogen (Tamoxifen), ức chế enzyme aromatase (Anastrozole, letrozole...), dùng các thuốc tương tự GnRH, các progestin.

+Hoá trị: thường dùng cho những bệnh nhân nào mà căn bệnh vẫn tiếp tục tiến triển dù đã điều trị nội tiết, hoặc bệnh nhân có thụ thể nội tiết âm tính. Có nhiều phác đồ thường dùng như: CA, CAF, CMF,…

+Trastuzumab : Là kháng thể đơn dòng kháng lại thụ thể tăng trưởng biểu bì – HER2/neu

+Cắt buồng trứng

ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐÔNG Y

     YHCT cho là :

-Do khí huyết bất túc ảnh hưởng tới thận, thận sinh cốt tuỷ, tuỷ sinh huyết, ứ đọng làm thành thũng lựu;

-Đàm thấp bất hoà. Nếu không được điều trị kịp thời sẽ tụ lại thành nhũ nham.

-Có thể do độc tà từ ngoài xâm phạm vào kết hợp giữa phục tà và tâm cảm mà phát sinh bệnh. Làm cho tạng phủ hư hao mà chủ yếu là can, thận; liên quan tới thất tình, giận dữ, phẫn nộ.

     Thường có 4 thể sau đây : Can uất khí trệ, Tỳ hư đàm thấp trở trệ, Độc ứ, và Khí huyết tổn thương.

P 1 : Công anh thang (Bệnh viện nhân dân tỉnh Liêu Ninh) (hiệu quả điều trị 18 ca UTV khỏi 6 ca, u nhỏ còn 50% 6 ca)

D 1 : Bồ công anh, Địa đinh, Viễn chí, Quan quế đều 10g, Qua lâu 60g, Giáp châu, Thiên hoa phấn, Xích thược, Cam thảo đều 6g, Hạ khô thảo, Kim ngân hoa, Hoàng kỳ, Bạch chỉ, Cát cánh, Phỉ bạch đều 15g, Đương quy 30g. Sắc uống.

GG :

-Di căn hạch, thêm : Mễ nhân 30g, Hải tảo 15g, Mẫu lệ, Huyền sâm đều 24g.

-Ung thư loét, bỏ : Bồ công anh, Địa đinh thảo; bội Hoàng kỳ.

-Người yếu ra mồ hôi, thêm Hoàng kỳ 30g.

-Miệng khô, táo bón, thêm : Chỉ thực, Thanh bì đều 10g.

-Sợ lạnh, đau lưng, huyết trắng, chân tay mát, thêm Quan quế lên 18g.

-Mặt đỏ sốt, miệng khô, bứt rứt, thêm : Hoàng cầm, Hoàng liên đều 10g, Sài hồ 15g.

-Thuốc đắp ngoài : Ngũ linh chi, Hùng hoàng, Mã tiền tử, A giao, lượng bằng nhau tán mịn, trộn dầu vừng mà đắp.

P 2 : Ngưu hoàng tiêu thũng phương (Khoa ung thư, Bệnh viện Quảng An Môn, Viện nghiên cứu Trung Y Bắc Kinh) (hiệu quả điều trị 134 ca UTV, sống trên 5 năm 88,8%).

D 2 : Ngưu hoàng nhân tạo 10g, Nhũ hương, Một dược, Hải long đều 15g, Hoàng kỳ, Sơn từ cô, Hương duyên, Tam tiên sao đều 30g, Hạ khô thảo, bột Tam thất, Hà thủ ô, Ý dĩ, Tử hoa địa đinh, Nga truật, Tiên linh tỳ đều 60g. Tán bột, hoàn, ngày 2 lấn x 3g.

GG :

-Can khí uất, thêm : Sài hồ, Thanh bì, Xích thược, Bạch thược, Uất kim.

-Tỳ hư đàm thấp, thêm : Bạch linh, Bạch truật, Trần bì, Bán hạ.

-Khí huyết lưỡng hư, thêm : Đảng sâm, Đương quy, A giao, Kê huyết đằng.

P 3 : Hải tảo trinh ngân thang (Bệnh viện ung thư trường Đại học y khoa Thượng Hải) (kqls : đt 6 ca UTV đều sống trên 3 năm).

D 3 : Hải tảo, Hải đới đều 30g, Nữ trinh tử, Kim ngân hoa đều 15g, Phục linh, Kỷ tử, Thạch hộc đều 12g, Thái tử sâm 9g, Quyết minh tử 30g, Đan sâm, Trần bì, Thục địa đều 15g. Sắc uống.

P 4 : Mã tiền phong phòng phương (Lôi Vĩnh Trọng, Bệnh viện Thử Quang, Học viện Trung Y Thượng Hải) (kqls : đt 44 ca UTV có 7 ca sống trên 3 năm)

D 4 : Mã tiền tử 1g, Oa ngưu (ốc sên) 5g, Ngô công 10g, Phong phòng 5g, Toàn yết 3g, Nhũ hương 1g. Tán mịn dùng nước làm hoàn. Ngày 2,5g chia 3 lần uống.

P 5 : Nhi đơn thang (Bệnh viên nhân dân số 1 Phúc Châu, Phúc Kiến) (kqls : 1 ca UTV khỏi).

D 5 : Đan sâm 15g, Đơn bì, Bạch cương tàm đều 6g, Đương quy, Hạ khô thảo đều 45g, Quất hạch 12g, Bạch chỉ 9g. Sắc uống.

     Phác đồ  điều trị UTV của TXĐ: [7]

1.Viên nang Tinh nghệ vàng TXĐ 500mg, ngày 4 lần, mỗi lần 2 viên.

2.Viên nang Kháng Nham TXĐ 500mg, ngày 4 lần, mỗi lần 2 viên.

3.Viên nang Kháng nham 2 TXĐ 500mg, ngày 4 lần, mỗi lần 1 viên.

4.Viên nang Kháng nhũ nham TXĐ 500mg, ngày 4 lần, mỗi lần 4 viên


TIÊN LƯỢNG

     Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh. Quan trọng nhất là giai đoạn của bệnh, càng phát hiện ở giai đoạn sớm thì tiên lượng càng tốt. Hạch di căn cũng đóng vai trò đáng kể.

     Đặc tính mô học của bướu cũng được quan tâm. Tiên lượng tốt hơn với các ung thư trong nang, ung thư ống dẫn, ung thư dạng tủy, bệnh Paget không bướu.

PHÒNG NGỪA

     UTV rất đáng quan tâm vì đó là một trong những loại ung thư hàng đầu ở phụ nữ. Nhiều biện pháp đã được đề xuất để làm giảm nguy cơ mắc bệnh, một số biện pháp dưới đây rất đáng chú ý: [4]

+Dùng tamoxifen cho các carcinom tiểu thùy tại chỗ

+Chế độ ăn ít béo, giảm cân

+Giảm uống rượu

+Tránh tiếp xúc với clo hữu cơ, chất phóng xạ

+Nên cho con bú sữa mẹ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1].Estrogen and the risk of breast cancer. Mark Clemons, M.B., B.S., M.D., và Paul Goss , M.D., Ph.D. – NEJM                              
[2].Breast cancer. Issam Makhoul, M.D. –Emedecine 
[3].Manual of clinical oncology – 6th – 1994 – UICC
[4].Reducing the risk of breast cancer. Rowan T, C Bowski, M.D., Ph.D –NEJM  
[5].Cancer incidence, mortality and prevalence in the European Union – 1998 
[6].Meeting highlights: International concensus panel on the treatment of primary breast cancer; Goldhirsch A et al. J Natl. Cancer Inst 1998;90:1604.


Nguồn: dongythoxuanduong.com.vn

Điện thoại liên hệ:0943.986.986

Bài viết liên quan
1
Bạn cần tư vấn?