
Các thể bệnh viêm mũi không dị ứng
Viêm mũi không dị ứng gồm nhiều thể bệnh khác nhau, tùy theo thời gian diễn biến, nguyên nhân và đặc điểm tổn thương niêm mạc mũi.
Viêm mũi cấp tính
Thường gặp nhất trong cảm lạnh thông thường do virus. Bệnh biểu hiện bằng phù nề, giãn mạch niêm mạc mũi, gây nghẹt mũi, chảy nước mũi và khó chịu vùng mũi. Một số trường hợp có thể liên quan đến nhiễm khuẩn như liên cầu, phế cầu hoặc tụ cầu.
Viêm mũi mạn tính
Thường là hậu quả của các đợt viêm mũi hoặc viêm xoang kéo dài. Người bệnh có thể bị nghẹt mũi dai dẳng, chảy dịch mũi, đôi khi dịch có mủ và dễ chảy máu mũi. Ngoài nhiễm trùng thông thường, một số bệnh nhiễm khuẩn hoặc nhiễm nấm mạn tính hiếm gặp cũng có thể gây tổn thương niêm mạc, sụn và xương vùng mũi. Không khí khô, độ ẩm thấp và các chất kích thích trong môi trường cũng có thể góp phần làm bệnh kéo dài
Viêm mũi teo
Là một dạng viêm mũi mạn tính, trong đó niêm mạc mũi bị teo mỏng, khô và giảm khả năng bảo vệ tự nhiên. Tình trạng này thường gặp hơn ở người cao tuổi, người có bệnh lý viêm mạn tính hoặc sau các phẫu thuật vùng mũi xoang làm mất quá nhiều mô niêm mạc. Nhiễm khuẩn mạn tính có thể góp phần duy trì tình trạng viêm và teo niêm mạc.
Viêm mũi vận mạch
Là một thể viêm mũi không dị ứng khá thường gặp. Bệnh xảy ra do niêm mạc mũi phản ứng quá mức với các yếu tố môi trường như không khí lạnh, khô, thay đổi nhiệt độ, độ ẩm, khói bụi hoặc mùi kích thích. Người bệnh thường có các đợt nghẹt mũi, chảy nước mũi trong và hắt hơi, nhưng không tìm thấy bằng chứng dị ứng rõ ràng.
Sinh lý bệnh của viêm mũi không dị ứng
Trong viêm mũi không dị ứng, niêm mạc mũi thường trở nên nhạy cảm quá mức với các yếu tố kích thích như virus, khói bụi, hóa chất, mùi mạnh, không khí lạnh hoặc thay đổi nhiệt độ. Các kích thích này tác động lên đầu tận cùng thần kinh cảm giác ở niêm mạc mũi, đặc biệt thông qua các kênh cảm nhận như TRP và TRPV1.
Khi các kênh này bị hoạt hóa, những chất trung gian thần kinh như chất P và CGRP được phóng thích, gây giãn mạch, tăng tính thấm thành mạch và kích thích tiết dịch. Hậu quả là người bệnh xuất hiện nghẹt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi hoặc cảm giác khó chịu trong mũi.
Bên cạnh đó, rối loạn điều hòa thần kinh thực vật, nhất là tình trạng tăng hoạt động phó giao cảm, cũng góp phần làm niêm mạc mũi dễ phù nề và tăng tiết dịch hơn.
Các triệu chứng và dấu hiệu Viêm mũi không dị ứng
Triệu chứng của viêm mũi không dị ứng thay đổi tùy theo từng thể bệnh:
- Trong viêm mũi cấp tính, người bệnh thường nghẹt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, ngứa mũi, có thể kèm ho, sốt nhẹ và chảy dịch mũi sau.
- Ở viêm mũi mạn tính, các biểu hiện có thể tương tự viêm mũi cấp nhưng kéo dài dai dẳng hơn. Một số trường hợp nặng có thể xuất hiện dịch mũi mủ, mùi hôi, đóng vảy trong mũi hoặc chảy máu mũi. Hắt hơi và ngứa mũi thường ít nổi bật hơn so với viêm mũi dị ứng.
- Viêm mũi teo thường gây khô mũi, đóng vảy, nghẹt mũi, giảm hoặc mất khứu giác và có thể chảy máu cam tái diễn. Đặc điểm đáng chú ý là trong mũi có vảy kèm mùi hôi do bội nhiễm vi khuẩn.
- Trong viêm mũi vận mạch, triệu chứng thường xuất hiện từng đợt, chủ yếu là chảy nước mũi trong, nghẹt mũi và chảy dịch mũi sau. Niêm mạc mũi có thể cương phồng, đỏ hoặc tím do tăng tưới máu. Hắt hơi và ngứa mũi vẫn có thể gặp nhưng thường không phải là triệu chứng chính.
Chẩn đoán viêm mũi không dị ứng
Chẩn đoán viêm mũi không dị ứng chủ yếu dựa vào khai thác triệu chứng, tiền sử bệnh và thăm khám lâm sàng. Trong đa số trường hợp, người bệnh không cần làm xét nghiệm chuyên sâu. Bệnh được phân biệt với viêm mũi dị ứng ở điểm không xác định được dị nguyên đặc hiệu gây khởi phát triệu chứng.
Riêng viêm mũi vận mạch thường được gợi ý khi người bệnh có nghẹt mũi, chảy nước mũi trong từng đợt nhưng không có dấu hiệu nhiễm trùng như dịch mũi mủ, đóng vảy mũi hoặc biểu hiện viêm nhiễm rõ rệt.
Điều trị viêm mũi không dị ứng
Điều trị viêm mũi không dị ứng cần dựa vào thể bệnh, mức độ triệu chứng và yếu tố khởi phát. Mục tiêu chính là giảm nghẹt mũi, chảy nước mũi, hạn chế kích ứng niêm mạc và phòng ngừa tái phát.
Với viêm mũi cấp tính do virus, bệnh thường tự khỏi sau một thời gian ngắn nên điều trị chủ yếu là giảm triệu chứng. Người bệnh có thể được dùng thuốc giảm đau, hạ sốt khi cần; thuốc kháng histamin thế hệ hai hoặc thuốc làm giảm nghẹt mũi trong thời gian ngắn. Thuốc co mạch mũi tại chỗ không nên dùng quá 3 ngày liên tiếp vì có thể gây nghẹt mũi hồi ứng và viêm mũi do thuốc.
Với viêm mũi teo, điều trị tập trung vào làm mềm và loại bỏ vảy mũi, giảm mùi hôi, hạn chế nhiễm khuẩn và cải thiện độ ẩm niêm mạc. Các biện pháp thường dùng gồm rửa mũi, thuốc kháng sinh tại chỗ khi có chỉ định, vitamin A, D và một số thuốc bôi tại chỗ. Trường hợp nặng có thể cần can thiệp phẫu thuật để giảm luồng khí làm khô niêm mạc mũi.
Với viêm mũi vận mạch, người bệnh nên tránh các yếu tố kích thích như không khí lạnh, khô, khói bụi, mùi nồng hoặc thay đổi nhiệt độ đột ngột. Làm ẩm không khí và rửa mũi bằng dung dịch nước muối sinh lý có thể giúp giảm khó chịu. Một số thuốc xịt mũi như glucocorticoid tại chỗ, thuốc kháng histamin xịt mũi hoặc ipratropium có thể được sử dụng tùy triệu chứng, đặc biệt khi chảy nước mũi nhiều.
Nhìn chung, thuốc cần được dùng đúng chỉ định, tránh lạm dụng thuốc chống nghẹt mũi tại chỗ. Nếu triệu chứng kéo dài, tái phát nhiều lần, chảy mũi mủ hôi, chảy máu mũi hoặc giảm khứu giác rõ, người bệnh nên được thăm khám chuyên khoa tai mũi họng để đánh giá nguyên nhân và loại trừ các bệnh lý khác.
Điều trị viêm mũi không dị ứng theo y học cổ truyền
Trong y học cổ truyền, viêm mũi không dị ứng thuộc phạm vi các chứng Tỵ uyên, Tỵ trất, Tỵ cừu hoặc Tỵ tắc. Việc điều trị cần dựa trên nguyên nhân và thể bệnh cụ thể của từng người bệnh thông qua thăm khám, biện chứng luận trị. Các thể bệnh thường gặp bao gồm phong hàn phạm phế, phong nhiệt phạm phế, phế khí hư, tỳ khí hư hoặc thận dương hư.
Điều trị bằng y học cổ truyền mang tính cá thể hóa, trong đó thuốc thang được gia giảm phù hợp với triệu chứng, thể trạng và bệnh cảnh của từng người bệnh nhằm khu phong, tán hàn, thanh nhiệt, thông khiếu hoặc bổ ích chính khí. Bên cạnh thuốc uống, có thể sử dụng các chế phẩm thảo dược dạng xịt hoặc nhỏ mũi nhằm làm sạch niêm mạc, giảm phù nề, giảm tiết dịch và hỗ trợ phục hồi chức năng niêm mạc mũi.
Ngoài ra, các phương pháp không dùng thuốc như châm cứu, điện châm, cấy chỉ, cứu ngải, xoa bóp bấm huyệt và xông mũi bằng dược liệu cũng được ứng dụng nhằm cải thiện lưu thông khí huyết, điều hòa chức năng tạng phủ, giảm nghẹt mũi và hạn chế tái phát. Việc phối hợp y học cổ truyền với các biện pháp điều trị hiện đại có thể giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát triệu chứng và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.
BS. Nguyễn Thùy Ngân (Thọ Xuân Đường)

.gif)


.png)






