SKCD- Khi trái tim thứ hai của người đàn ông mang bệnh

Nam y không ngừng nghiên cứu về bệnh tật để tìm ra những liệu pháp chữa bệnh bằng thiên nhiên tốt nhất, toàn diện nhất cho người bệnh.

KHI TRÁI TIM THỨ HAI CỦA ĐÀN ÔNG MANG BỆNH

( Báo SKCD số 27(77) ngày 11/09/2019)

Tuyến tiền liệt với đàn ông thường được ví như trái tim thứ hai bởi vai trò quan trọng của nó với cơ thể. Thực tế, nam giới tuổi trung niên luôn phải đối diện trước những nguy cơ bệnh tật với tuyến tiền liệt của mình. Với liệu pháp chữa bệnh bằng thiên nhiên, Nam y đã có nhiều thành công trong việc điều trị những chứng bệnh này. Để giúp bạn đọc hiểu sâu thêm vấn đề này, phóng viên báo SKCĐ đã có cuộc trò chuyện ngắn với tiến sĩ - lương y Phùng Tuấn Giang - Chủ tịch Tổ chức Quốc Tế chữa bệnh bằng liệu pháp thiên nhiên tại Việt Nam.

Xin tiến sĩ cho biết, khi nào thì người ta phải “nghi” mình đã mắc một căn bệnh của tuyến tiền liệt ?

Có khoảng 40% nam giới trên 50 tuổi bị u xơ tiền liệt tuyến (tăng sản lành tính tiền liệt tuyến) có triệu chứng. Khi thấy có những biểu hiện như sau, cần nghĩ đến căn bệnh phì đại tuyến tiền liệt: Tia tiểu nhỏ yếu; Tiểu khó khiến bệnh nhân phải rặn mạnh; Nước tiểu tồn dư trong bàng quang tăng, vì vậy tiểu nhiều lần vào ban đêm; Dễ bị viêm đường tiết niệu và tiểu mất kiểm soát vào ban đêm do ứ đọng quá nhiều nước tiểu ở bàng quang. 

Khi thấy những dấu hiệu này cần đến các cơ sở y tế ngay, tránh để xảy ra biến chứng như: Ứ nước tiểu cấp tính (Xảy ra ở 1/3 số trường hợp bệnh nhân, ở bất kỳ giai đoạn nào. Biến chứng này tăng lên khi bệnh nhân uống rượu, nhịn đi tiểu, dùng thuốc kháng Cholinergic, thuốc cường giao cảm và ở nơi có khí hậu lạnh);  Tiểu tiện ra máu (Thường tiểu tiện ra máu đại thể, không đau. Tiểu tiện ra máu tăng kèm theo đau khi có sỏi bàng quang hoặc viêm tiền liệt tuyến mãn tính); Nhiễm khuẩn tiết niệu, sinh dục; Tiểu tiện không tự chủ (Hay xảy ra vào ban đêm khi lượng nước tiểu tồn dư trong bàng quang lớn); Bàng quang mất bù (Ứ nước tiểu lâu ngày gây giãn bàng quang và tạo túi thừa giả ở bàng quang); Suy thận mãn tính (Gặp trong trường hợp ứ nước tiểu đài bể thận kéo dài, bệnh tiến triển nhanh nếu kèm theo nhiễm khuẩn tiết niệu).

Ngoài ra, khi cơ thể có những triệu chứng sau, cần nghĩ đến căn bệnh ung thư tiền liệt tuyến: Rối loạn tiểu tiện (giống u xơ - phì đại tiền liệt tuyến) và đau quanh hậu môn. Sự tắc nghẽn này nặng lên nhanh cho thấy có thể là khối u ác tính; Tiểu tiện ra máu, lẫn máu trong tinh dịch và viêm đường tiết niệu. 

Nhìn chung, ung thư tuyến tiền liệt ở giai đoạn sớm không có triệu chứng đặc biệt. Bệnh chỉ có thể phát hiện được dựa trên thăm khám và xét nghiệm PSA (xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt) định kỳ hằng năm hoặc sờ thấy một khối cứng ở tiền liệt tuyến khi đưa ngón tay trỏ từ ngả trực tràng. Ở giai đoạn nặng, khối ung thư xâm lấn sang các cơ quan lân cận hoặc hạch bạch huyết vùng chậu. Càng về sau di căn đến các vùng xa hơn của cơ thể như đốt sống thắt lưng thấp hay xương chậu gây đau lưng. Khối u có thể lan đến gan, gây đau bụng và vàng da, di căn đến phổi gây đau ngực và ho nhiều. Ung thư tuyến tiền liệt thường có xu hướng di căn vào xương nên để lâu tới giai đoạn di căn thì rất khó chữa.

Sinh thiết tiền liệt tuyến là xét nghiệm chẩn đoán xác định ung thư tiền liệt tuyến. Đồng thời chẩn đoán phân biệt ung thư tiền liệt tuyến với các bệnh tiền liệt tuyến rắn do viêm, u xơ tiền liệt tuyến có viêm hay sỏi tiền liệt tuyến.

Hai căn bệnh như tiến sĩ – lương y vừa phân tích được y học cổ truyền nhìn nhận như thế nào? 

Theo y học cổ truyền sự rối loạn tiểu tiện đái khó, bí đái... thuộc phạm vi vào chứng lung bế. Tiểu tiện không thông, nhỏ ra từng giọt ngắn ít, thể bệnh mãn gọi là lung. Tiểu tiện đóng lại, bí kết, không thông, rặn cũng không ra, thể bệnh cấp gọi là bế.

Nguyên nhân là rối loạn khí hóa nước ở tam tiêu, bàng quang. Y học cổ truyền chia ra thành những thể sau:

- Bàng quang hư hàn, thận dương hư: Do thận dương hư suy không chưng nóng thủy ở thận từ phế tỳ đưa xuống, làm bàng quang hư lạnh không điều hòa được thủy dịch. Rối loạn tiểu tiện: xuất hiện tiểu đêm một hoặc nhiều lần, thậm chí tiểu nhiều lần ban ngày nặng thì đái vặt, tiểu không tự chủ, tiểu nhỏ giọt khó đi không có sức bài tiết, đái són. Bệnh diễn biến đã lâu, có xu hướng từ từ tăng dần. Thận dương hư: lưng đau, chân lạnh, tinh thần uể oải, sợ lạnh, mặt trắng nhạt, tiểu có lẫn chất đục, liệt dương, tảo tinh, lưỡi nhạt bệu, mạch trầm nhược. Pháp điều trị: Ôn thận hóa khí hành thủy.

- Thể can khí uất kết: Do tình chí không thư sướng làm mất đi sự sơ tiết của tạng can, lâu ngày làm khí trệ, huyết ứ, vì vậy kết tụ và ứ trệ ở trong cơ thể ảnh hưởng đến khí hóa của tam tiêu mà sinh bí đái. Can khí uất kết lâu ngày làm chức năng sơ tiết rối loạn có thể sơ tiết thái quá  thì ảnh hưởng đến thận, làm tinh quan không bền, thận hư nên tiểu són, tiểu đêm. Triệu chứng: Tiểu khó, nhỏ giọt hoặc không ra lúc nặng lúc nhẹ, tiểu són hoặc di niệu, đau tức chướng bụng dưới khi có khi không, kèm tinh thần uất ức, hay nổi cáu hoặc đa phiền, choáng đầu, mất ngủ, miệng đắng, họng khô, ngực sườn đầy tức, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền sác hoặc sáp. Pháp điều trị: Hành khí tiêu tích, hoạt huyết thông lạc

- Niệu lộ ứ tắc: Khí huyết ứ trở, huyết ứ, ứ trở bàng quang, đàm ngưng ứ trở... Triệu chứng: Bị rối loạn tiểu tiện đã lâu, tiểu ra nhỏ giọt, tia nước tiểu yếu hoặc không thành tia hoặc thành nhiều tia, phải đứng lâu mới đái hết, khi tiểu phải rặn. Nặng thì bí đái, tiểu đau, đầy chướng bụng dưới, đau chói không di chuyển. Miệng lưỡi tím có điểm ứ huyết, mạch sáp. Pháp điều trị: Hành ứ tán kết, lợi niệu.

- Tỳ khí hư (tỳ hư khí hãm): Triệu chứng: Bệnh phát trì hoãn, không có sức đẩy nước tiểu ra, hoặc tiểu tiện phải gắng sức, ra nhỏ giọt, sót rớt dầm dề, lao động quá sức thì bệnh nặng hơn, bụng dưới chướng trệ. Sắc mặt không tươi, tinh thần mệt mỏi, hơi thở ngắn, tiếng nói nhỏ yếu, ăn không ngon miệng, tay chân lạnh, tự ra mồ hôi, lưỡi nhạt hoặc nhạt bệu, rìa lưỡi có nếp hằn răng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch nhược vô lực. Pháp điều trị: Ích khí, kiện tỳ, lợi niệu. 

- Thể thận âm hư: Triệu chứng: Mót tiểu mà đi đái không ra, lưng đau, chân mỏi, đầu váng, hoa mắt, ngũ tâm phiền nhiệt, di tinh, rối loạn sinh dục, vùng hội âm có cảm giác nặng tức, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ, mạch trầm tế sác. Pháp điều trị: Ích thận tư âm, thanh tiết tướng hỏa. 

- Bàng quang thấp nhiệt: Triệu chứng: Tiểu nhiều, tiếu dắt, tiểu buốt, tiểu đục, tiểu ra máu, đường tiểu nóng, đau, vùng hội âm chướng đau, đau lan đến bụng dưới, xuống xương cùng, âm hành và đùi, toàn thân lúc nóng lúc lạnh, nước tiểu vàng, đỏ hoặc đau, táo bón, miệng khô, đắng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng bệu, mạch hoạt sác. Pháp điều trị: Thanh nhiệt lợi niệu.

Được biết Nam y đã có nhiều thành công trong việc điều trị những chứng bệnh này. Tiến sĩ có thể cho bạn đọc những thông tin cụ thể hơn? 

Nền y học thuần Việt – ta gọi là Nam Y, đã điều trị các bệnh ung bướu nói chung và phì đại lành tính tiền liệt tuyến, ung thư tiền liệt tuyến nói riêng bằng những liệu pháp tự nhiên đã cho nhiều kết quả tốt. Với chẩn đoán tỉ mỉ từ triệu chứng lâm sàng, triệu chứng cận lâm sàng, tứ chẩn, thất chẩn để phân tích cụ thể trên từng bệnh nhân mà đưa ra phác đồ điều trị tốt nhất:

- Dùng thuốc sắc theo phương Kỳ Môn Y Pháp, có gia giảm phù hợp cho từng thể bệnh, từng đối tượng bệnh nhân.

- Dùng các loại thuốc viên, linh đan có tác dụng giải độc cơ thể, khí huyết, tạng phủ, tiêu ung bướu.

- Châm cứu tập trung năng lượng nội sinh để tiêu u, chống co thắt niệu đạo, giải quyết tình trạng tiểu khó.

- Phương pháp ăn nhiều rau xanh, trái cây tươi sống để kiềm hóa cơ thể và điều hòa các rối loạn chuyển hóa, tốt cho bệnh nhân mắc các bệnh chuyển hóa, ung thư, miễn dịch.

- Hướng dẫn bệnh nhân thực hiện lối sống lành mạnh: Luyện ý, luyện hình để tinh thần thư sướng, hình thể khỏe mạnh để tăng thêm sức chống đỡ bệnh tật.

Qua nhiều năm kinh nghiệm chữa trị phì đại lành tính tiền liệt tuyến và ung thư tiền liệt tuyến bằng Nam y, chúng tôi đã có những kết quả như sau:

- Những bệnh nhân nam cao tuổi đến khám vì những lý do khác thường có rối loạn tiểu tiện kèm theo được khám chi tiết tỉ mỉ đã phát hiện phì đại lành tính tiền liệt tuyến và được chữa trị tận gốc tất cả các chứng trạng mà bệnh nhân gặp phải.

- Những bệnh nhân phì đại lành tính tiền liệt tuyến và ung thư tiền liệt tuyến chưa can thiệp phẫu thuật, hóa trị, xạ trị. Sau điều trị từ 4 - 6 tháng bằng Nam y đã giảm kích thước khối u, giải quyết được vấn đề khó khăn khi tiểu tiện.

- Những bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn muộn, đã di căn và có nhiều biến chứng nặng nề, đến với Nam y được điều trị với mục tiêu: Nâng cao thể trạng, tăng sức đề kháng, giải quyết các triệu chứng khó chịu, tiêu u, nâng cao chất lượng cuộc sống, kéo dài sự sống… và đều đạt được những thành công nhất định.

- Những bệnh nhân phì đại lành tính tiền liệt tuyến và ung thư tiền liệt tuyến đã qua phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, bị tái phát hoặc chưa tái phát điều trị bằng Nam y để chống tái phát, tiêu u, nâng cao thể trạng, khắc phục những hậu quả do tác dụng không mong muốn của các biện pháp chữa trị trước đó để lại.

Xin trân trọng cảm ơn Lương y!


Điện thoại liên hệ:0943.986.986

Bài viết liên quan
1
Bạn cần tư vấn?