
1. Y học cổ truyền (YHCT)
Theo YHCT, các triệu chứng mô tả trong bệnh tăng huyết áp thuộc phạm trù chứng huyễn vựng, đầu thống. Khi bệnh tiến triển nặng lên, gây tăng huyết áp nguy hiểm hoặc dẫn tới đột quỵ não, YHCT xếp vào phạm trù chứng trúng phong.
1.1 Nguyên nhân bệnh sinh
2.1.1 Nhân tố tinh thần
Trong YHCT, tình chí được coi là phản ứng tinh thần của cơ thể trước các tác động bên ngoài, gồm bảy trạng thái: hỉ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh. Bình thường, đây chỉ là biểu hiện sinh lý tự nhiên và không gây bệnh. Tuy nhiên, khi tình chí bị kích thích quá mạnh, kéo dài hoặc vượt quá mức chịu đựng, sẽ làm rối loạn khí huyết, mất cân bằng âm dương tạng phủ và sinh bệnh. Ở người tăng huyết áp, thường gặp tình trạng lo âu, cáu giận, uất ức, khiến can khí không điều hòa, hóa nhiệt, tổn thương can âm, làm can dương thăng vượng dẫn đến các triệu chứng như đỏ mặt, đỏ mắt, đau đầu, chóng mặt.
2.1.2 Nhân tố ăn uống
Thói quen hay ăn nhiều chất béo, ngọt hoặc uống quá nhiều bia, rượu làm tổn thương tỳ vị, tỳ mất kiện vận làm thấp trọc nội sinh, hóa đàm hóa hỏa, đàm trọc nhiễu loạn phía trên gây trệ tắc kinh mạch gây nên bệnh.
2.1.3 Nhân tố lao dục
Lao động quá sức, dục vọng quá nhiều làm hao thương khí âm hoặc tuổi cao, thận hao hư, âm tinh bất túc làm thủy không hàm mộc gây âm hư dương cang, nội phong nhiễu loạn gây nên bệnh.
1.2 Biện chứng quá trình phát triển bệnh
Do yếu tố thể chất và nhiều nguyên nhân phối hợp làm rối loạn âm dương, chủ yếu ảnh hưởng đến can và thận. Thường gặp các chứng thận âm hư, can dương vượng gây đau đầu, chóng mặt, ù tai, mất ngủ; lâu ngày có thể dẫn đến dương hư với biểu hiện sợ lạnh, tay chân lạnh, đái đêm nhiều.
Quá trình bệnh thường khởi đầu từ tổn thương âm, sau đó đến dương, cuối cùng là âm dương cùng suy, dễ phát sinh can phong, can hỏa gây đỏ mặt, cáu giận, tê liệt hoặc méo miệng, nguy hiểm như trúng phong. Ở phụ nữ, bệnh còn liên quan đến hai mạch xung và nhâm, khi mất điều hòa sẽ xuất hiện các triệu chứng âm dương bất túc.
1.3 Nguyên tắc điều trị
Bệnh tăng huyết áp có quan hệ mật thiết đến chức năng của can và thận. Cho nên, nguyên tắc quan trọng nhất trong điều trị chứng bệnh này là điều chỉnh cân bằng chức năng của can thận và âm dương, hạ huyết áp hợp lý, chú trọng đến cải thiện triệu chứng.
Đối với thể can dương thượng cang, dùng pháp tiềm giáng bình can, không nên dùng các vị thuốc có tính vị khổ hàn làm tổn thương can.
Đối với thể can thận âm hư nên dùng pháp tư dưỡng can thận nhưng không nên quá lạm dụng các vị thuốc nê trệ làm tổn thương tỳ.
Đối với thể âm dương lưỡng hư nên dùng pháp dục âm trợ dương, âm dương cùng điều trị.
1.4 Phân thể điều trị
1.4.1 Can dương thượng cang
Lâm sàng: đau đầu, đầu căng tức, hoa mắt, chóng mặt, sắc mặt hồng, mắt đỏ, dễ cáu gắt, ngủ ít, ngủ hay mê, miệng và họng khô; bệnh thường nặng lên khi bệnh nhân bực dọc hoặc cáu giận; chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch huyền.
Pháp điều trị: bình can tiềm dương, tư dưỡng can thận.
Bài thuốc: Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm.
- Thiên ma 8g
- Câu đằng 8g
- Thạch quyết minh 8g
- Chi tử 6g
- Hoàng cầm 6g
- Ích mẫu thảo 8g
- Ngưu tất 12g
- Đỗ trọng 8g
- Tang ký sinh 12g
- Dạ giao đằng 8g
- Phục thần 8g
Bài thuốc trên sắc uống, ngày 01 thang.
Trong bài thuốc trên thì thiên ma, câu đằng, thạch quyết minh có tác dụng bình can tức phong tiềm dương; chi tử, hoàng cầm có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa làm cho nhiệt ở kinh can không thiên cang; ích mẫu thảo có tác dụng hoạt huyết lợi thủy; ngưu tất có tác dụng đưa huyết xuống dưới, phối hợp với đỗ trọng và tang ký sinh để bổ ích can thận; dạ giao đằng, phục thần có tác dụng an thần định chí.
1.4.2 Âm hư dương cang
Lâm sàng: đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, đau lưng, mỏi gối, hay quên, ngũ tâm phiền nhiệt, hồi hộp trống ngực, mất ngủ, chất lưỡi hồng, ít rêu lưỡi, mạch tế sác.
Pháp điều trị: tư âm tiềm dương.
Bài thuốc: Kỷ cúc địa hoàng hoàn.
- Thục địa 8g
- Hoài sơn 12g
- Sơn thù 8g
- Trạch tả 8g
- Đan bì 12g
- Bạch linh 8g
- Kỷ tử 6g
- Cúc hoa 8g
Bài thuốc trên vận dụng liều thích hợp để sắc uống, ngày 01 thang.
Bài thuốc trên cấu tạo từ bài thuốc Lục vị địa hoàng hoàn và gia kỷ tử, cúc hoa. Trong đó, bài Lục vị địa hoàng hoàn và vị thuốc kỷ tử đều có tác dụng tư dưỡng can thận âm, cúc hoa có tác dụng bình tức can phong. Đây là bài thuốc thường dùng để điều trị thể âm hư dương cang.
1.4.3 Âm dương lưỡng hư
Lâm sàng: đau đầu, chóng mặt, ù tai, hồi hộp, trống ngực, mất ngủ, ngủ hay mê, vận động thì khó thở, đau lưng, mỏi gối, di tinh, liệt dương, tiểu tiện trong và số lượng nhiều, mạch trầm tế vô lực.
Pháp điều trị: dục âm trợ dương.
Bài thuốc: Kim quỹ thận khí hoàn.
- Sinh địa 8g
- Hoài sơn 12g
- Sơn thù 8g
- Trạch tả 8g
- Bạch linh 8g
- Đan bì 8g
- Quế chi 5g
- Phụ tử 4g
Bài thuốc trên vận dụng liều thích hợp để sắc uống, ngày 01 thang.
Bài thuốc trên được cấu tạo từ bài Lục vị địa hoàng hoàn và gia quế chi, phụ tử. Trong đó, bài Lục vị địa hoàng hoàn có tác dụng tư bổ thận âm; quế chi, phụ tử có tác dụng trợ dương. Các vị thuốc này phối hợp có tác dụng bổ cả âm và dương.
1.4.4 Đàm trọc ứ trệ
Lâm sàng: đầu căng nặng và đau, đầy tức ngực, hồi hộp, trống ngực, mệt mỏi, buồn nôn hoặc xuất tiết nhiều đờm dãi, chân tay tê bì, rêu lưỡi dày trơn hoặc bẩn nhớp, mạch hoạt.
Pháp trị: hóa đàm khứ thấp.
Bài thuốc: Bán hạ bạch truật thiên ma thang.
- Bán hạ 5g
- Thiên ma 12g
- Bạch linh 8g
- Trần bì 5g
- Bạch truật 8g
- Cam thảo 7g
Các vị trên gia sinh khương 10g, đại táo 12g; sắc uống ngày 01 thang.
Trong bài thuốc trên thì bán hạ có tác dụng táo thấp hóa đàm, giáng nghịch cầm nôn; thiên ma có tác dụng hóa đàm tức phong để giảm đau đầu và chóng mặt; bạch truật có tác dụng kiện tỳ táo thấp, phối hợp với bán hạ và thiên ma để khứ thấp hóa đàm, giảm chóng mặt; bạch truật phối hợp với bạch linh có tác dụng kiện tỳ trừ thấp; trần bì có tác dụng lý khí hóa đàm; sinh khương, đại táo có tác dụng điều hòa tỳ vị; cam thảo có tác dụng kiện tỳ và điều hòa các vị thuốc.
1.4.5 Xung nhâm thất điều
Lâm sàng: đau đầu, chóng mặt, bứt rứt, dễ ra mồ hôi, phù thũng, ngủ ít, ngủ hay mê, dễ bị lạnh, sợ nóng, huyết áp dao động, chất lưỡi nhợt, mạch huyền; kèm theo thấy chân và tay căng tức, mặt phù, buồn bực, mất ngủ.
Pháp điều trị: điều lý xung nhâm.
Phương thuốc: Nhị tiên thang gia giảm
- Tiên linh tỳ (Dâm dương hoắc) 15g
- Tiên mao 12g
- Tri mẫu 12g
- Hoàng bá 10g
- Đương quy 12g
- Ba kích 12g
- Hoàng kỳ 15g
- Trạch tả 15g
- Táo nhân 15g
Bài thuốc trên sắc uống, ngày 01 thang.
Trong bài thuốc trên thì Tiên linh tỳ, tiên mao (rễ sâm cau), ba kích có tác dụng ôn bổ thận dương, cường cân cốt; tri mẫu, hoàng bá có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa và táo thấp; đương quy có tác dụng dưỡng huyết và hoạt huyết; hoàng kỳ có tác dụng kiện tỳ ích khí, phối hợp với trạch tả để tăng cường tác dụng thấm thấp lợi thủy; táo nhân để dưỡng tâm an thần.
1.5 Biện pháp điều trị khác
Có thể áp dụng châm cứu theo nguyên tắc hư thì bổ, thực thì tả, lựa chọn các huyệt phù hợp theo từng thể bệnh. Khi cần, có thể kết hợp thêm các huyệt giúp điều hòa khí huyết, an thần và giảm đau. Ngoài ra, có thể phối hợp các biện pháp hỗ trợ khác như xoa bóp, bấm huyệt để nâng cao hiệu quả điều trị.
2. Y học hiện đại (YHHĐ)
Trong khi YHCT tập trung vào cân bằng âm dương, điều hòa tạng phủ và bồi bổ cơ thể, Y học hiện đại lại dựa trên cơ chế bệnh sinh, số liệu huyết áp và tổn thương cơ quan đích để chẩn đoán và điều trị. Sự kết hợp hai nền y học sẽ mang lại hiệu quả toàn diện cho bệnh nhân.
2.1 Tổng quan
Tăng huyết áp, còn được gọi là tăng huyết áp nguyên phát, đặc trưng bởi tình trạng huyết áp động mạch tăng cao (có thể là tăng huyết áp tâm thu, tâm trương hoặc cả hai). Người bệnh thường có triệu chứng đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi; về giai đoạn muộn có thể xuất hiện các biểu hiện tổn thương ở tim, thận và não.
Để chẩn đoán, bệnh nhân cần được thăm khám lâm sàng từ 2–3 lần khác nhau, mỗi lần đo huyết áp ít nhất 2 lần, sau khi nghỉ ngơi 5 phút. Nếu huyết áp đo được ≥ 140/90 mmHg thì được xác định là tăng huyết áp.
Có hai thể bệnh chính: tăng huyết áp nguyên phát (chiếm đa số) và tăng huyết áp thứ phát (do bệnh lý khác gây ra, còn gọi là tăng huyết áp triệu chứng), trong đó tăng huyết áp thứ phát chiếm khoảng 10% tổng số ca.
2.2 Lâm sàng
Giai đoạn đầu của bệnh tăng huyết áp thì thường không thấy biểu hiện đặc biệt. Khi bệnh nhân phát hiện được tăng huyết áp thì thường thấy biểu hiện: đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, hay quên, ù tai, mệt mỏi, hồi hộp trống ngực, đau mỏi cổ gáy…
Giai đoạn sau của bệnh tăng huyết áp sẽ gây tổn thương cơ quan đích như tim, não, thận và các triệu trứng liên quan kèm theo.
Giai đoạn đầu, ngoài việc đo thấy huyết áp tăng cao, đa số bệnh nhân không thấy biểu hiện gì; một số bệnh nhân khi nghe tim có thể thấy tiếng T2 đanh, tiếng thổi tâm thu nhẹ ở mỏm.
Khi tăng huyết áp kéo dài, gây tổn thương cơ quan đích như tim, thận, não... thì sẽ thấy các triệu chứng liên quan kèm theo.
2.3 Cận lâm sàng
X quang: quai động mạch chủ vồng, cung tim trái giãn.
Điện tim: dày thất trái, thiếu máu cơ tim, rối loạn nhịp tim.
Soi đáy mắt: tăng huyết áp giai đoạn 2 thấy động mạch đáy mắt ngoằn nghèo hoặc hẹp cục bộ; giai đoạn 3 thấy biểu hiện vữa xơ động mạch nhỏ hoặc xuất huyết võng mạc, phù gai thị.
Xét nghiệm:
- Nước tiểu: giai đoạn đầu không thấy rối loạn đặc biệt; khi có tổn thương thận sẽ thấy protein niệu, trụ hình…
- Sinh hóa máu: khi có rối loạn chức năng thận sẽ thấy urê, creatinin tăng cao.
2.4 Phân độ tăng huyết áp
Phân độ tăng huyết áp (THA) ở người lớn tuổi theo WHO/ISH 2003, phân loại này dựa trên đo huyết áp (HA) tại phòng khám. Nếu huyết áp tâm thu (HATT) và huyết áp tâm trương (HATTr) không cùng mức phân loại thì chọn mức huyết áp cao hơn để xếp loại.
Tham khảo thêm phân độ của JNC 7 năm 2003:
Phân giai đoạn tăng huyết áp
- Giai đoạn 1: tăng huyết áp, không có tổn thương cơ quan đích.
- Giai đoạn 2: tăng huyết áp, tổn thương cơ quan đích như dày thất trái phát hiện được trên lâm sàng, X quang, siêu âm; hẹp toàn thể hay khu trú động mạch võng mạc; protein niệu (±), creatinin máu tăng…
- Giai đoạn 3: tăng huyết áp kèm theo đột quỵ não, suy tim, tổn thương đáy mắt (chảy máu võng mạc, xuất tiết, phù gai thị).
Một số biểu hiện thường thấy ở giai đoạn 3 nhưng không đặc hiệu cho bệnh tăng huyết áp: cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, nhũn não, phồng tách động mạch, tắc mạch, suy thận.
3. Lời khuyên cho người bệnh
Bên cạnh các biện pháp kiểm soát từ YHHĐ, việc điều trị bằng Nam y – Nam dược mang lại ưu thế nổi bật: tác động vào căn nguyên gây bệnh, điều hòa âm dương, phục hồi chức năng tạng phủ, từ đó giúp ổn định huyết áp một cách an toàn và bền vững.
Tại Thọ Xuân Đường, người bệnh sẽ được các thầy thuốc Nam y nhiều kinh nghiệm trực tiếp thăm khám, kê đơn, gia giảm bài thuốc phù hợp thể trạng từng người. Phương pháp kết hợp Nam y – Nam dược không chỉ hạ áp, ổn định huyết áp mà còn tăng cường sức khỏe toàn diện, phòng ngừa tái phát, giúp người bệnh sống khỏe mạnh và trường thọ.
BS. Tuấn Dương (Thọ Xuân Đường)

.gif)









