.jpg)
Chì là chất độc hại đầu tiên được đo lường trong Khảo sát Sức khỏe và Dinh dưỡng Quốc gia (NHANES). Mức chì trong máu được coi là có khả năng gây hại đã được điều chỉnh xuống nhiều lần. Vào năm 2012, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) tuyên bố rằng không có mức chì an toàn nào trong máu của trẻ em được xác định. CDC đã giảm ngưỡng nồng độ chì trong máu được coi là cao ở trẻ em từ 100 μg/lít xuống 50 μg/lít vào năm 2012 và 35 μg/lít vào năm 2021.
1. Chì ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển thần kinh
Phơi nhiễm chì đã được xác định là một yếu tố nguy cơ gây sinh non, ngay cả khi nồng độ chì trong máu chỉ ở mức bình thường ở phụ nữ mang thai. Một nghiên cứu tại Canada cho thấy rằng khi nồng độ chì trong máu của phụ nữ mang thai tăng thêm 10 μg/lít, nguy cơ sinh non tăng 70%. Đặc biệt, ở những phụ nữ có nồng độ vitamin D trong huyết thanh dưới 50 nmol/lít, nguy cơ sinh non tự nhiên sẽ tăng gấp ba lần nếu nồng độ chì tăng thêm 10 μg/lít.
Năm 1979, một nghiên cứu của Needleman và cộng sự phát hiện rằng những trẻ em có nồng độ chì trong ngà răng cao hơn có khả năng gặp phải các khiếm khuyết về thần kinh tâm lý. Những trẻ này thường bị giáo viên đánh giá kém về khả năng tập trung, tổ chức, tính bốc đồng và các đặc điểm hành vi khác so với những trẻ có nồng độ chì thấp hơn. Mười năm sau, trẻ em trong nhóm có nồng độ chì cao hơn có nguy cơ mắc chứng khó đọc cao gấp 5,8 lần và nguy cơ bỏ học cao gấp 7,4 lần so với nhóm có nồng độ thấp hơn.
Các khiếm khuyết về nhận thức liên quan đến chì ở trẻ em cũng gia tăng theo tỷ lệ với nồng độ chì ngay cả khi ở mức thấp. Sự gia tăng nồng độ chì trong máu từ 10 μg/lít lên 300 μg/lít được cho là liên quan đến mức giảm chín điểm IQ ở trẻ em. Tuy nhiên, mức khiếm khuyết gia tăng lớn nhất (sáu điểm IQ) lại xảy ra khi nồng độ chì tăng từ 100 μg/lít.
Tiếp xúc với chì là một yếu tố nguy cơ cho các rối loạn hành vi, chẳng hạn như ADHD (rối loạn tăng động giảm chú ý). Trong một nghiên cứu về trẻ em từ 8 đến 15 tuổi, những trẻ có nồng độ chì trong máu vượt quá 13 μg/lít có nguy cơ mắc ADHD gấp đôi so với những trẻ ở nhóm có nồng độ chì thấp nhất.
2. Bệnh thận
Tiếp xúc với chì là một yếu tố nguy cơ đối với bệnh thận mãn tính. Các tác động độc hại của chì được đặc trưng bởi sự hiện diện của các thể nhân trong nhân tế bào ống thận gần, xơ hóa ống kẽ và suy thận mãn tính. Trong nghiên cứu NHANES từ 1999 đến 2006, người lớn có nồng độ chì trong máu vượt quá 24 μg/lít có nguy cơ cao hơn 56% về việc giảm tốc độ lọc cầu thận (<60 ml/phút trên 1,73 m² diện tích bề mặt cơ thể) so với những người có nồng độ chì dưới 11 μg/lít. Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu cho thấy nguy cơ mắc bệnh thận mãn tính cao hơn 49% ở những người có nồng độ chì trong máu vượt quá 33 μg/lít so với những người có nồng độ thấp hơn.
3. Bệnh tim mạch
Chì gây ra những thay đổi tế bào đặc trưng cho huyết áp cao và xơ vữa động mạch. Trong các nghiên cứu phòng thí nghiệm, tiếp xúc với chì ở mức độ thấp kéo dài đã gây ra huyết áp cao liên tục thông qua việc tăng cường stress oxy hóa, giảm mức độ nitric oxide hoạt tính sinh học và gây co mạch thông qua việc kích hoạt protein kinase C. Chì cũng góp phần vào xơ vữa động mạch bằng cách bất hoạt nitric oxide, tăng cường sự hình thành hydrogen peroxide, ức chế sự sửa chữa nội mô, làm suy giảm sự hình thành mạch máu và thúc đẩy sự hình thành huyết khối.
Một nghiên cứu năm 2023 của nhóm tác giả Van Strijp thử nghiệm in vitro cho thấy việc nuôi cấy tế bào nội mô trong 72 giờ với chì ở nồng độ từ 0,14 đến 8,2 μg/lít gây tổn thương màng (các vết rách nhỏ hoặc thủng được quan sát qua kính hiển vi điện tử). Nghiên cứu này đã cung cấp bằng chứng siêu cấu trúc rằng dù chì mới hấp thụ hay chì tái tuần hoàn đã được tích trữ trong xương đều có thể gây ra rối loạn chức năng nội mô. Những thay đổi này có thể là dấu hiệu sớm nhất trong quá trình phát triển bệnh xơ vữa động mạch. Trong một phân tích cắt ngang với mẫu đại diện của người lớn có mức chì trung bình trong máu là 27 μg/lít và không có tiền sử bệnh tim mạch, sự gia tăng 10 μg/lít trong mức chì trong máu liên quan đến tỷ lệ odds là 1,24 cho sự vôi hóa động mạch vành nặng
Tỷ lệ huyết áp cao đã giảm mạnh ở Hoa Kỳ trong giai đoạn đầu loại bỏ xăng có chì. Từ 1976 đến 1980, 32% người trưởng thành Mỹ bị huyết áp cao; đến năm 1988-1992, tỷ lệ này chỉ còn 20%. Các yếu tố như hút thuốc, thuốc chống huyết áp và béo phì không thể giải thích được sự giảm này. Tuy nhiên, mức chì trong máu trung bình của người Mỹ đã giảm từ 130 μg/lít vào năm 1976 xuống 30 μg/lít vào năm 1994, cho thấy rằng việc giảm tiếp xúc với chì có thể đã góp phần vào sự giảm huyết áp.
Trong nghiên cứu Strong Heart Family của một nhóm người Mỹ bản địa, việc giảm mức chì trong máu từ 9 μg/lít trở lên liên quan đến việc giảm huyết áp tâm thu trung bình 7,1 mmHg. Nhiều câu hỏi về tác động của tiếp xúc với chì đối với bệnh tim mạch vẫn chưa được giải đáp. Thời gian tiếp xúc cần thiết để gây ra huyết áp cao hoặc bệnh tim mạch chưa được hiểu rõ, nhưng tiếp xúc với chì lâu dài dường như là một yếu tố dự đoán mạnh hơn so với tiếp xúc ngắn hạn.
Dù vậy, việc giảm tiếp xúc với chì dường như dẫn đến giảm huyết áp và nguy cơ tử vong do các nguyên nhân tim mạch trong vòng 1 đến 2 năm. Một năm sau khi cấm sử dụng nhiên liệu có chì trong các cuộc đua xe tại Mỹ, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch vành đã giảm đáng kể ở các khu vực gần đường đua so với những khu vực lân cận.
Bệnh tim mạch vành là nguyên nhân chính gây tử vong trên toàn cầu. Nhiều nghiên cứu đã xác nhận rằng tiếp xúc với chì là một yếu tố quan trọng gây ra tử vong do bệnh tim mạch vành. Tuy nhiên, vấn đề này thường không được chú ý đầy đủ, có thể bị coi nhẹ hoặc bỏ qua trong các nghiên cứu về sức khỏe. Trong một phân tích tổng hợp, Chowdhury và cộng sự phát hiện rằng mức chì trong máu cao là một yếu tố nguy cơ đáng kể cho bệnh tim mạch vành. Năm 2013, Cơ quan Bảo vệ Môi trường đã kết luận rằng tiếp xúc với chì là một yếu tố nguyên nhân gây bệnh tim mạch vành; 10 năm sau, Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ đã đồng ý.
4. Gánh nặng bệnh tật toàn cầu
Gánh nặng bệnh tật từ tiếp xúc với chì trên toàn cầu là rất lớn. Trái ngược với sự giảm tỷ lệ bệnh tim mạch vành ở các nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ này đã tăng trong 30 năm qua ở các nước đang phát triển. Có đến 90% trẻ em bị ngộ độc chì sống ở các nước đang phát triển.
Năm 2019, có khoảng 5,5 triệu người chết vì bệnh tim mạch được cho là liên quan đến việc tiếp xúc với chì. Mỗi năm, tiếp xúc với chì khiến trẻ em mất đi 765 triệu điểm IQ và chiếm 30% gánh nặng toàn cầu về khuyết tật trí tuệ, tức là những trẻ có IQ dưới 70. Chi phí kinh tế do giảm khả năng trí tuệ và tăng nguy cơ tử vong từ bệnh tim mạch liên quan đến ngộ độc chì lên tới 6 nghìn tỷ đô la. Đặc biệt, các nước phát triển chiếm hơn 90% số ca tử vong do các vấn đề tim mạch và khuyết tật trí tuệ liên quan đến chì.
5. Phòng ngừa ngộ độc chì
Sự giảm sút nghiêm trọng về chỉ số IQ và sự gia tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ngay cả khi mức chì trong máu thấp nhất có thể đo được cùng với việc mọi người thường xuyên tiếp xúc với chì cho thấy rằng cần có những chiến lược từ chính phủ để loại bỏ ngộ độc chì trong cộng đồng. Việc giám sát các nhóm có nguy cơ cao và thực hiện sàng lọc cho những người tiếp xúc nhiều là rất quan trọng. Tuy nhiên, để thực sự bảo vệ mọi người khỏi ngộ độc chì, chúng ta cần tìm ra và loại bỏ các nguồn ô nhiễm chì trong môi trường bất kể chúng ở đâu.
Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững năm 2002, chính phủ các nước đã kêu gọi loại bỏ sơn chì. Liên minh toàn cầu loại bỏ sơn chì (Lead Paint Alliance) được thành lập vào năm 2011 để thúc đẩy việc loại bỏ dần việc sản xuất và bán sơn có chứa chì và cuối cùng là loại bỏ những rủi ro mà các loại sơn này gây ra. Một yêu cầu quan trọng để đạt được điều này là thiết lập các khuôn khổ quản lý quốc gia phù hợp để ngăn chặn việc sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, phân phối, bán và sử dụng sơn chì và các sản phẩm được phủ sơn chì. Trong Kế hoạch kinh doanh của mình, Lead Paint Alliance đặt mục tiêu đến năm 2020, tất cả các quốc gia sẽ có khuôn khổ quản lý như vậy. Trong một cuộc khảo sát do WHO và Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) thực hiện, các bên cùng điều phối Lead Paint Alliance, tính đến ngày 31 tháng 7 năm 2019, chỉ có 72 chính phủ xác nhận rằng họ có các biện pháp kiểm soát ràng buộc về mặt pháp lý đối với sơn chì.
6. Điều trị
Liệu pháp thải chì đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc giảm lượng chì trong cơ thể. Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của liệu pháp này đối với sức khỏe vẫn chưa được thống nhất. Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với 1.708 người tham gia cho thấy việc truyền EDTA(một chất giúp liên kết và tăng cường bài tiết chì) hàng tuần đã giảm 18% nguy cơ mắc các biến cố tim mạch so với nhóm giả dược. Tuy nhiên, một thử nghiệm gần đây với 956 người tham gia chỉ ghi nhận mức giảm nguy cơ chỉ đạt 7%, điều này là không đáng kể.
Trong một thử nghiệm khác có đối chứng ngẫu nhiên với 202 bệnh nhân bị suy thận mãn tính, việc truyền EDTA hàng tuần đã làm tăng 12% tỷ lệ lọc cầu thận, trong khi nhóm dùng giả dược giảm 3,6%. Ngược lại, trong một thử nghiệm với 780 trẻ em có nồng độ chì trong máu từ 200 đến 440 μg/lít, việc điều trị bằng succimer (một loại thuốc thải chì khác) không giúp cải thiện điểm số nhận thức hay hành vi của các em. Những kết quả không nhất quán này cho thấy rằng phòng ngừa vẫn là yếu tố quan trọng nhất để bảo vệ sức khỏe cộng đồng khỏi ngộ độc chì.
DS. Nguyễn Thị Ngọc Hà (Thọ Xuân Đường)

.gif)









