
Những điều cần biết về hội chứng ruột kích thích (IBS)
Hội chứng ruột kích thích (irritable bowel syndrome – IBS) là một rối loạn mạn tính của ống tiêu hóa, đặc trưng bởi đau bụng tái phát đi kèm thay đổi thói quen đại tiện mà không phát hiện tổn thương thực thể qua nội soi hay chẩn đoán hình ảnh. IBS thuộc nhóm “rối loạn tương tác ruột – não” (gut–brain interaction disorders) trong phân loại rome iv và rome v. Tỉ lệ mắc chiếm khoảng 10–20% dân số, gặp nhiều ở nữ giới. Dù không đe dọa tính mạng, IBS ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống, hiệu suất lao động, cảm xúc và chi phí điều trị.
Đặc điểm dịch tễ và tác động xã hội
Nghiên cứu của hiệp hội tiêu hóa Hoa Kỳ (AGA) ghi nhận có đến 40% bệnh nhân từng phải tạm ngưng cuộc gọi, hạn chế dùng internet hay ngừng sinh hoạt tình dục vì các triệu chứng bùng phát. Người bệnh mất trung bình khoảng hai ngày làm việc mỗi tháng do đau bụng, táo bón hoặc tiêu chảy. IBS hiện là nguyên nhân phổ biến nhất gây nghỉ làm ngắn hạn liên quan hệ tiêu hóa, cho thấy đây là một vấn đề y tế – xã hội đáng quan tâm hơn là rối loạn chức năng đơn thuần.
Sinh bệnh học hiện đại – cơ chế bệnh sinh đa tầng
YHHĐ xem IBS là hệ quả của nhiều cơ chế tương tác giữa hệ thần kinh trung ương, hệ thần kinh ruột, miễn dịch niêm mạc, hệ vi sinh, cùng yếu tố tâm lý – xã hội.
Rối loạn trục não – ruột
Não và ruột liên hệ thông qua dây x, hệ thần kinh ruột, các hormone và cytokine. Khi trục này mất cân bằng, tín hiệu từ ruột được phóng đại gây tăng nhạy cảm, đồng thời nhu động thay đổi dẫn đến táo bón hoặc tiêu chảy. Stress và rối loạn lo âu làm triệu chứng nặng thêm.
Tăng nhạy cảm nội tạng
Ngưỡng cảm giác đau của bệnh nhân thấp hơn bình thường, khiến hoạt động co bóp nhẹ của ruột hoặc hơi trong lòng ruột cũng gây đau đáng kể.
Rối loạn vận động ruột
Ở IBS-d, nhu động ruột tăng nhanh khiến phân lỏng và thời gian lưu trữ giảm. Ở IBS-c, nhu động chậm gây táo bón và phân khô cứng. Trong IBS-m, hoạt động ruột dao động thất thường và khó đoán.
Rối loạn hệ vi sinh đường ruột
Các nghiên cứu ghi nhận giảm lactobacillus và bifidobacterium cùng sự gia tăng các chủng sinh khí và độc tố. Sau nhiễm khuẩn cấp, một số người tiến triển thành IBS hậu nhiễm.
Viêm mức độ thấp
Nhiều bệnh nhân có tăng tế bào mast niêm mạc đại tràng, tăng cytokine viêm và tăng tính thấm ruột. Viêm âm ỉ này góp phần vào tăng nhạy cảm và rối loạn chức năng ruột.
Yếu tố tâm lý – xã hội
Stress, sang chấn tâm lý, môi trường sống thay đổi hoặc rối loạn cảm xúc đều góp phần khởi phát và kéo dài triệu chứng. Không ít bệnh nhân ghi nhận cơn bùng phát sau giai đoạn tâm lý căng thẳng.
Đặc điểm lâm sàng – tính chất khó dự đoán
Triệu chứng bao gồm đau bụng giảm sau đại tiện, đầy trướng, thay đổi hình dạng phân, mót rặn, phân nhầy nhưng không lẫn máu. Nhiều người có thể dự đoán mức độ triệu chứng dựa vào cảm giác buổi sáng, nhưng 22% không thể lường trước diễn biến bệnh. Dù dự đoán được, phần lớn cũng không có biện pháp ngăn chặn cơn cấp. IBS được chia thành bốn nhóm theo rome iv – rome v: IBS-c (táo bón), IBS-d (tiêu chảy), IBS-m (xen kẽ) và IBS-u (không phân loại được).
Điều trị hiện đại
Điều trị IBS thường bao gồm thuốc, chế độ ăn và trị liệu tâm lý – thần kinh.
Thuốc điều trị
Các thuốc điều hòa nhu động như linaclotide hoặc lubiprostone giúp cải thiện táo bón. Thuốc chống co thắt như hyoscine hay mebeverine làm giảm đau quặn. Thuốc kháng serotonin 5-ht3 dùng trong IBS-d. Rifaximin hỗ trợ làm giảm triệu chứng do loạn khuẩn. Probiotic làm cân bằng hệ vi sinh. Ở bệnh nhân có rối loạn lo âu, thuốc chống trầm cảm dạng ssri hoặc tca cũng được sử dụng vì có hiệu quả trên cảm giác đau nội tạng.
Chế độ ăn
Low-fodmap diet, tức hạn chế fructan, lactose và polyol, được chứng minh hiệu quả. Cần tránh thức ăn kích thích như cafeine, rượu, đồ chiên rán và tăng chất xơ hòa tan như psyllium.
Trị liệu tâm lý – thần kinh
Liệu pháp nhận thức – hành vi, thôi miên hướng vào ruột, thiền chánh niệm và các kỹ thuật thở đều cho kết quả cải thiện tương đương thuốc trong nhiều trường hợp.
Đông y luận trị và thảo dược hỗ trợ cân bằng
Đông y đã mô tả các biểu hiện tương ứng IBS trong các chứng “phúc thống”, “tiết tả”, “táo kết”, “can tỳ bất hòa”, “tỳ vị hư hàn”, “thấp nhiệt đại trường”. Tư tưởng chủ đạo là “hư thực thác tạp”, tức gốc bệnh phần nhiều do tỳ vị suy yếu trong khi khí cơ rối loạn.
Cơ chế bệnh sinh theo đông y
Đông y xem IBS là sự rối loạn điều hòa giữa can, tỳ và vị, với yếu tố cảm xúc đóng vai trò quan trọng.
Can khí uất kết
Căng thẳng gây khí trệ, dẫn đến đau bụng, đầy trướng và khí nghịch làm buồn nôn. Can khí uất gây ảnh hưởng đến tỳ khiến tiêu hóa suy giảm. Cơ chế này tương đồng với lý thuyết rối loạn trục não – ruột trong YHHĐ.
Tỳ vị hư nhược
Tỳ chủ vận hóa. Khi tỳ khí suy do lao lực hoặc lo nghĩ nhiều, thức ăn không được tiêu hóa tốt gây đầy trướng và phân nát. Khí hư khiến đại tiện khó thông.
Thấp – nhiệt – hàn xâm phạm trường vị
Hàn thấp do ăn lạnh gây đau bụng và tiêu chảy. Thấp nhiệt do đồ cay nóng gây mót rặn. Nhiễm khuẩn gây thấp nhiệt ứ lại, làm đại tiện nhiều và mùi hôi.
Tâm tỳ lưỡng hư
Lo nghĩ quá độ làm tỳ hư, đồng thời tâm khí suy gây lo âu, mất ngủ. Đây là nền tảng khiến IBS kéo dài và dễ tái phát, trùng hợp với nghiên cứu về vai trò của cortisol.
Biện chứng luận trị – phân thể
Mỗi thể lâm sàng của IBS có phương pháp điều trị riêng.
Thể can tỳ bất hòa
Đau bụng tăng khi stress, đầy trướng, đại tiện thất thường. Điều trị theo nguyên tắc sơ can lý khí, kiện tỳ hòa vị. Sài hồ sơ can thang thường được gia giảm theo triệu chứng.
Thể tỳ hư thấp trệ
Chậm tiêu, bụng đầy mềm, mệt mỏi, phân nát kéo dài. Pháp trị gồm kiện tỳ, táo thấp. Lục quân tử thang gia giảm giúp phục hồi chức năng vận hóa.
Thể tỳ vị hư hàn
Đau bụng khi lạnh, tiêu chảy sáng sớm, tay chân lạnh. Pháp trị ôn trung tán hàn, kiện tỳ và ôn dương. Lý trung thang hoặc phụ tử lý trung thang được áp dụng.
Thể thấp nhiệt đại trường
Tiêu chảy cấp kèm mót rặn, bụng sôi, đắng miệng. Pháp trị thanh nhiệt hóa thấp. Hoàng liên giải độc thang hoặc cát căn hoàng cầm hoàng liên thang dùng hiệu quả.
Nam y – thảo dược hỗ trợ dựa trên dược lý hiện đại
- Trần bì chứa limonene và hesperidin hỗ trợ giảm đầy bụng và điều hòa nhu động.
- Bạch truật có tác dụng điều hòa miễn dịch, bảo vệ niêm mạc và kiện tỳ mạnh.
- Bạch linh giúp lợi thấp và an thần nhẹ.
- Gừng giàu gingerol làm ấm tỳ vị và giảm co thắt ruột.
- Mộc hương hành khí mạnh, giảm đau quặn.
- Hoắc hương có tác dụng kháng khuẩn, chống tiêu chảy.
- Hương phụ sơ can, giảm tác động của stress lên nhu động ruột.
- Lá ổi, lá mơ, lá vối chứa tannin tự nhiên có tác dụng giảm tiêu chảy và điều hòa vi sinh.
Bài thuốc theo từng thể
Trong IBS-c, phối hợp sài hồ, chỉ thực, hậu phác, mộc hương, bạch truật và hạt lanh hoặc hoạt thạch để điều khí và nhuận táo.
Trong IBS-d, kết hợp hoắc hương, bạch truật, bạch linh, lá ổi và gừng sao để cố sáp và hóa thấp.
Trong IBS-m, dùng trần bì, bạch truật, hương phụ, mộc hương nhằm điều hòa khí cơ và ổn định nhu động.
Chế độ ăn theo đông y – nam dược
Thực phẩm nên dùng gồm cháo gạo tẻ, khoai luộc, bí đỏ, cà rốt, gừng, nghệ, thịt trắng, cá hấp, rau xanh ít gây đầy hơi và sữa chua men sống.
Thực phẩm nên tránh gồm đồ lạnh, đồ chiên rán, rượu bia, cà phê đặc, thức ăn sinh hơi và gia vị cay nóng.
Lối sống, dưỡng sinh trị liệu
Các phương pháp khí công, thiền chánh niệm giúp giảm stress và ổn định thần kinh ruột. Xoa bóp bấm huyệt các điểm trung quản, khí hải, túc tam lý và thái xung giúp điều hòa tạng phủ. Tập luyện như đi bộ, yoga hoặc thái cực quyền mỗi ngày 30–45 phút giúp khí huyết lưu thông và nhu động ổn định.
Dưỡng sinh giữ vai trò then chốt trong kiểm soát hội chứng ruột kích thích bởi đây là bệnh lý chịu tác động mạnh từ cảm xúc, lối sống và nhịp sinh học. Mục tiêu của dưỡng sinh không chỉ dừng lại ở việc giảm triệu chứng mà còn hướng tới việc khôi phục sự quân bình của tạng phủ, điều hòa trục não – ruột và nâng cao khả năng thích ứng của toàn cơ thể. Trong đó, việc luyện hơi thở giữ vị trí quan trọng, đặc biệt là thở bụng sâu – phương pháp giúp kích hoạt hệ thần kinh phó giao cảm, làm dịu co thắt đại tràng và giảm đau quặn. Khi thực hành đều đặn mỗi buổi sáng, hơi thở sâu chậm có thể làm giảm rõ rệt tình trạng đầy trướng và tăng khả năng tự điều chỉnh nhu động ruột.
Song song với hơi thở, các hình thức vận động nhu hòa như khí công, thái cực quyền, yoga hoặc đi bộ nhanh cũng giúp cải thiện chức năng tiêu hóa bằng cách thúc đẩy tuần hoàn, ổn định khí cơ tỳ vị và giải phóng căng thẳng. Người bệnh nên duy trì ít nhất 30 phút vận động hằng ngày, tránh luyện tập cường độ cao vì có thể gây rối loạn thêm nhu động ruột. Thêm vào đó, chế độ sinh hoạt điều độ đóng vai trò không thể thay thế: ngủ sớm để tỳ được phục hồi, ăn uống đúng giờ, nhai kỹ, tránh thức ăn lạnh hoặc quá nhiều chất béo, đồng thời hạn chế cà phê, rượu bia và các món chiên rán. Việc giữ cho cơ thể ấm – đặc biệt là vùng bụng – cũng rất quan trọng, vì hàn tà dễ làm khí cơ đình trệ và kích hoạt cơn đau.
Một số người cũng nhận thấy việc chườm ấm bụng và xoa bóp theo chiều kim đồng hồ khoảng 10 phút vào buổi tối giúp giảm đau, giải uất trệ và kích thích nhu động ruột hoạt động tự nhiên hơn. Khi kết hợp hài hòa giữa dưỡng sinh, ăn uống hợp lý và điều trị y học đông – tây phương, phần lớn bệnh nhân IBS có thể kiểm soát triệu chứng bền vững, giảm tái phát và cải thiện rõ rệt chất lượng sống.
Kết luận
IBS là rối loạn tương tác ruột – não phức tạp, đòi hỏi cách tiếp cận tổng hợp. YHHĐ chú trọng thuốc, dinh dưỡng và trị liệu tâm lý, trong khi đông y đặt trọng tâm vào điều hòa khí cơ, tạng phủ và cảm xúc. Sự kết hợp giữa chế độ ăn khoa học, nguyên tắc dưỡng sinh, thảo dược quy kinh tỳ – can – vị và các kỹ thuật quản lý stress mang lại mô hình điều trị toàn diện, vừa có cơ sở khoa học hiện đại vừa dựa trên kinh nghiệm y học cổ truyền lâu đời.
BS. Tuấn Dương (Thọ Xuân Đường)

.gif)









